6 Đạt phổ cập giáo dục tiểu học

 undp vn
© United Nations Viet Nam\2010\Aidan Dockery

TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN CHO ĐẾN NAY

Việt Nam đã có được những tiến bộ đáng kể trong việc đạt được phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 2009, tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học là 95,5%, tỷ lệ hoàn thành tiểu học là 88,2% và tỷ lệ người dân từ 15-24 tuổi biết đọc biết viết là 97,1%. Tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học của trẻ em trai và trẻ em gái chỉ chênh nhau có 1%.

GIỮ VỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

Tiếp tục phát huy và đảm bảo giữ vững thành tích này, cần chú ý đến một số lĩnh vực, đặc biệt là bình đẳng và chất lượng giáo dục.

Bình đẳng trong giáo dục

Mặc dù đã đạt được những tiến bộ, song các nhóm chịu thiệt thòi, nhất là các hộ gia đình nghèo nhất, dân tộc thiểu số và người khuyết tật vẫn bị tụt hậu trong giáo dục. Ví dụ, tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học ở các hộ gia đình nghèo nhất là 88,9%, trong khi tỷ lệ này ở các hộ giàu nhất là 98,3%. Tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học của các nhóm dân tộc thiểu số người H’Mông và người Khơ-me thậm chí còn thấp hơn: 72,6% và 86,4%. Tỷ lệ biết đọc biết viết của đa số người Kinh là 95,9% trong khi tỷ lệ đó của người H’Mông chỉ có 37,7% (theo Tổng điều tra Dân số năm 2009). Tỷ lệ biết đọc biết viết ở người khuyết tật trong độ tuổi từ 15-24 là 69,1%.

Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng như trên bao gồm nghèo, tình trạng xa xôi hẻo lánh (như trường ở quá xa), cơ sở hạ tầng yếu kém (như điều kiện đường xá không tốt gây lo ngại về sự an toàn cho trẻ, trường lớp kém chất lượng, nước không sạch và vệ sinh kém) và các thói quen tiêu cực (như không khuyến khích trẻ em gái tiếp tục học lên cao).  

Chất lượng giáo dục

Việt Nam đã và đang thực hiện một số hoạt động cải cách giáo dục để khuyến khích hoạt động dạy và học tích cực. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục yếu kém vẫn là một vấn đề còn tồn tại. Trong năm học 2006-2007, đã phát hiện ra chỉ có 61% học sinh lóp 5 đủ trình độ đọc được tiếng Việt để có thể tự học khi vào lớp 6.

Một trong những nguyên nhân khiến chất lượng giáo dục chưa đạt yêu cầu là do cơ hội học tập linh hoạt và theo yêu cầu của các nhóm trẻ chịu thiệt thòi còn hạn chế. Ví dụ, nhiều trẻ dân tộc thiểu số gặp khó khăn về ngôn ngữ lúc ở trường vì các em hiểu hoặc nói được rất ít hoặc hầu như không hiểu và nói được tiếng Việt. Liên quan đến tình trạng này là việc phân công đội ngũ giáo viên chưa hài hòa, nhất là thiếu giáo viên dân tộc thiểu số ở các khu vực dân tộc thiểu số. Ngoài ra, mặc dù Chính phủ đã tiến tới thực hiện chương trình học cả ngày, thời gian giảng dạy hiện tại chưa đầy 700 giờ một năm đối với tiểu học cũng góp phần làm cho chất lượng giáo dục yếu kém.

Một lý do khác khiến chất lượng giáo dục yếu kém là chưa có cách tư duy và cách học độc lập, mang tính phê bình, sáng tạo và cải cách và điều này hạn chế phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề. Các hệ thống đánh giá vẫn nặng về đánh giá kiến thức dạy và học trong nhà trường chứ chưa đánh giá về thực lực. Các nhà quản lý ngành giáo dục cũng chưa đủ năng lực cần thiết để đảm nhận những trách nhiệm mới được chuyển giao, kết quả của quá trình phi tập trung hóa quản lý giáo dục, cũng như để đáp ứng với những yêu cầu mới của hệ thống giáo dục và đào tạo.

Để tất cả trẻ em, trai và gái đều thực hiện được quyền được hưởng nền giáo dục có chất lượng và để đạt được thành công MDG2 cũng như giữ vững những thành tựu đã đạt được, Việt Nam cần cải thiện hệ thống giáo dục để tạo ra nhiều cơ hội học tập đa dạng, phù hợp và linh hoạt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của tất cả học sinh. Việc lập kế hoạch giáo dục dựa trên các số liệu cập nhật, đáng tin cậy và có phân loại cùng là cần thiết.  

1.44 years
remaining
until 2015

1990 2015
Mục tiêu phát triển TNK 2
  1. Đảm bảo đến năm 2015, tất cả trẻ em, không phân biệt trai gái, đều được hoàn tất giáo dục tiểu học.
    • Tỷ lệ nhập học thực ở bậc tiểu học
    • Tỷ lệ học sinh đi học từ lớp 1 và hoàn thành đến lớp cuối cùng của bậc tiểu học
    • Tỷ lệ biết chữ trong nhóm thanh thiếu niên từ 15 – 24 tuổi, cả nam và nữ