6 Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em

 undp-vn
© United Nations Viet Nam\2010\Aidan Dockery

TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN CHO ĐẾN NAY

Việt Nam đã đạt được các mục tiêu về giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi và trẻ sơ sinh, với cả hai tỉ lệ trên đều giảm một nửa từ năm 1990 đến năm 2006. Tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm từ 44,4 trên 1.000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 14 trên 1.000 ca đẻ sống năm 2011 (MICS 2011). Tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi cũng đã giảm đáng kể, từ 58 trên 1.000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 16 năm 2011 (MICS 2011). Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị nhẹ cân giảm từ 25,2% năm 2005 xuống còn 18,9% năm 2009.

GIỮ VỮNG CÁC THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

Mặc dù đã đạt được những thành tựu, song tình trạng chênh lệch đang ngày càng gia tăng, chủ yếu liên quan đến vấn đề dân tộc, nơi cư trú, thu nhập của hộ gia đình cũng như trình độ học vấn của mẹ. Ví dụ, tỷ suất tử vong ở trẻ em đối với các dân tộc thiểu số từ năm 2006 đến năm 2011 đã tăng lên và vẫn cao gấp 3,5 lần so với tỷ lệ đó của dân tộc Kinh chiếm đa số. Tỷ lệ được tiêm chủng đầy đủ đối với trẻ em nằm trong 20% dân số nghèo nhất thấp hơn 22% so với trẻ em nằm trong 20% dân số giàu nhất và tình trạng chênh lệch này đã tăng lên.

Chính phủ đã xác định một số các ưu tiên trong khuôn khổ kế hoạch y tế tổng thể cũng như các chương trình mục tiêu quốc gia về dinh dưỡng, tiêm chủng, sức khỏe cộng đồng và sức khỏe sinh sản. Tất cả các kế hoạch và chương trình này đều xác định bất bình đẳng thực sự là một vấn đề và cần có các can thiệp nhằm vào các cộng đồng dân cư khó tiếp cận, các khu vực có tỷ lệ trẻ dưới 1 tháng tuổi tử vong cao và tỷ lệ còi cọc cao.  

Tử vong ở trẻ dưới 1 tháng tuổi

Mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể, nhưng phần lớn số trẻ tử vong dưới 1 tuổi vẫn xảy ra ở tháng đầu tiên, chiếm gần 70% các ca tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi và 52% các ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi (JAHR 2010). Các nghiên cứu cho thấy vẫn xảy ra tình trạng chênh lệch về tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 1 tháng tuổi giữa các vùng miền và giữa các nhóm khác nhau ở Việt Nam. Tỷ lệ tử vong ở các khu vực nông thôn miền núi cao gấp 2 đến 2,5 lần tỷ lệ đó ở các khu vực nông thôn đồng bằng và thành thị.

Để trẻ sơ sinh sống sót được liên quan chặt chẽ đến sức khỏe bà mẹ và đảm bảo an toàn hơn cho mẹ cũng là yếu tố hết sức quan trọng để cứu được trẻ sơ sinh. Với tình trạng chênh lệch về tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 1 tháng tuổi ngày càng lớn thì điều quan trọng là phải tăng cường củng cố hệ thống chăm sóc sức khỏe, nhất là ở cấp cộng đồng cũng như đảm bảo đầu tư đầy đủ để nhân rộng các can thiệp cần thiết cho trẻ sơ sinh đối với các bà mẹ và trẻ em người dân tộc thiểu số ở các khu vực khó tiếp cận. Nhiều phụ nữ sống ở miền núi không tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, bao gồm khám thai, đỡ đẻ, chăm sóc sau sinh, tiêm phòng và tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc và điều trị thường ngày.

Vai trò ngày càng tăng của khu vực tư nhân trong việc cung cấp các dịch vụ y tế, và những tác động của khu vực này đến sự công bằng trong tiếp cận các dịch vụ y tế cũng cần được chú ý. Thêm vào đó, không phải tất cả trẻ sơ sinh đều được đăng ký khai sinh ngay sau khi sinh. Thực tế này cũng làm cho các số liệu thiếu chính xác. Hơn một nửa trẻ sơ sinh tử vong trước khi 1 tháng tuổi không được đăng ký khai sinh.

Còi cọc

Trong mười năm qua, tỷ lệ trẻ nhẹ cân cũng như tỷ lệ trẻ còi cọc (thấp lùn hơn so với độ tuổi) trên toàn quốc đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, đối với một nước có thu nhập trung bình thì tình trạng còi cọc phổ biến ở mức gần 30% (ảnh hưởng đến khoảng 2,1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi) vẫn còn là tỷ lệ rất cao. Nguyên nhân còi cọc là do thiếu dưỡng chất kéo dài và thường xuyên bị viêm nhiễm. Ảnh hưởng của còi cọc là chậm phát triển cơ vận động, suy yếu chức năng nhận thức và khả năng học hành kém.

Điều tra Dinh dưỡng Quốc gia mới nhất cho thấy đang xảy ra tình trạng chênh lệch liên quan đến địa vị kinh tế-xã hội và giữa các tỉnh và các nhóm dân tộc. Mức độ còi cọc của trẻ em ở các hộ gia đình nghèo nhất cao hơn gần 3 lần so với trẻ em ở các hộ giàu nhất. Tỷ lệ còi cọc phổ biến ở mức trên 40% ở các tỉnh Lào Cai và Kon Tum trong khi ở thành phố Hồ Chí Minh là dưới 8% và ở các nhóm dân tộc thiểu số người H’Mông, Ba Na và Gia Rai là trên 50% trong khi ở trẻ em người Kinh là 23%.

Chiến lược Dinh dưỡng Quốc gia mới cho giai đoạn 2011-20120 thừa nhận cần thiết phải tập trung vào giảm tỷ lệ còi cọc và tăng cường can thiệp để giải quyết tình trạng còi cọc ngay từ trước khi sinh và trong 2 năm đầu đời của trẻ.

Cũng cần có sự phối hợp tốt hơn giữa các bộ ngành trong các nỗ lực giải quyết trình trạng còi cọc cũng như phân bổ ngân sách nhiều hơn nữa cho hệ thống chăm sóc sức khỏe y tế dự phòng để thu thập số liệu thường nhật. Cuối cùng, độ bao phủ, chất lượng và tính thực tế của các dịch vụ y tế và xã hội cơ bản khác trên toàn quốc, đặc biệt là ở vùng núi xa xôi cũng rất quan trọng góp phần cải thiện tình trạng trẻ còi cọc.

1.19 years
remaining
until 2015

1990 2015
Mục tiêu phát triển TNK 4
  1. Giảm hai phần ba tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi
    • Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi
    • Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh
    • Tỷ lệ trẻ em 1 tuổi được tiêm phòng sởi