6 Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác


Children with HIV in Viet Nam. @United Nations Viet Nam/2010/Justin Mott

TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN CHO ĐẾN NAY

Việt Nam đã có tiến bộ đáng kể trong việc xây dựng khung pháp lý và chính sách liên quan đến HIV vào năm 2012. Một chiến lược quốc gia mới về HIV đến năm 2015 phù hợp với các mục tiêu toàn cầu đã được thông qua. Việt Nam cũng đã phê duyệt chương trình Mục tiêu Quốc gia đầu tiên về HIV/AIDS cho giai đoạn 2012-2015. Tỷ lệ lây nhiễm HIV ước tính ở mức 16,7% năm 2009 đối với nam giới có quan hệ tình dục đồng giới, 13,4% đối với nam giới tiêm chích và 3% năm 2011 đối với phụ nữ làm nghề mại dâm. Từ tháng 12 năm 2009 đến cuối năm 2011, tổng số người được điều trị kháng vi rút (ART) đã tăng 1,5 lần với độ bao phủ ART ở mức 53% đối với người lớn và 83% đối với trẻ em. Tuy nhiên, mặc dù đã đạt được những tiến bộ ấn tượng như vậy song Việt Nam vẫn có khả năng không đạt được mục tiêu của MDG trong việc đẩy lùi dịch HIV/AIDS.

Các bước tiến rất ấn tượng của Việt Nam trong lĩnh vực phòng, chống sốt rét cho thấy Việt Nam đã đạt được mục tiêu MDG về phòng, chống sốt rét. Việt Nam cũng được công nhận là đã khống chế rất tốt các dịch bệnh khác như SARS, H5N1 và H1N1.

GIỮ VỮNG CÁC THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

Dù có tiến bộ trên nhiều lĩnh vực và Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực rất nhiều để ứng phó với HIV trong những năm gần đây, nhưng các rào cản trong việc sử dụng các dịch vụ HIV bao gồm cả tình trạng chưa có một gói dịch vụ chuẩn cũng như tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn còn tồn tại ở nhiều cấp vẫn đang tạo điều kiện cho vi rút HIV lặng lẽ lây lan và cản trở Việt Nam đạt được tiến bộ trong việc đạt mục tiêu MDG. Để đẩy mạnh hơn nữa các biện pháp nhằm chặn đứng và đẩy lùi sự lây lan của HIV, Việt Nam cần sử dụng ưu tiên nguồn lực vào dự phòng HIV cho các nhóm dân số chính, sử dụng các bằng chứng đã có và bảo đảm tính bền vững của ứng phó quốc gia với HIV.

Mở rộng độ bao phủ các dịch vụ HIV cho các nhóm dân số chính

  • Xây dựng chương trình ưu tiên cho HIV dựa vào bằng chứng và các chính sách dựa trên quyền cho các nhóm dân số chính có nguy cơ cao cũng như khuyến khích xã hội dân sự tham gia vào thiết kế và thực hiện chương trình sẽ giúp Việt Nam đạt được MDG 6.
  • Vì phần lớn các ca nhiễm HIV ở Việt Nam là do tiêm chích không an toàn và tình dục không an toàn nên các hoạt động dự phòng HIV toàn diện nhằm vào các hành vi này sẽ ngăn chặn và đẩy lùi hiệu quả sự lây lan của HIV.
  • Việc quan trọng là mở rộng các chương trình giảm hại, trong đó có chương trình điều trị duy trì bằng Methodone và bơm kim tiêm sạch dành cho những người tiêm chích ma túy (PWIDs); cũng như mở rộng chương trình bao cao su cho người tiêm chích ma túy, người bán dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới và bạn tình của họ.
  • Xây dựng và triển khai gói dịch vụ chuẩn toàn diện dành cho các nhóm có nguy cơ lây nhiễm HIV cao là điều thiết yếu.
  • Xét nghiệm sớm và điều trị sớm có thể phòng chống hiệu quả lây lan HIV khi kết hợp với các chiến lược phòng chống khác như sử dụng bao cao su.

Duy trì ứng phó với HIV ở cấp quốc gia  

Thực hiện những việc dưới đây rất quan trọng đối với Việt Nam trong việc phòng, chống HIV về lâu dài:

  • Tăng tỷ lệ nguồn lực trong nước dành cho HIV và phân bổ nguồn lực dựa vào bằng chứng và các động lực của dịch bệnh tập trung ở Việt Nam.
  • Đưa phòng chống HIV trở thành một ưu tiên trong chương trình nghị sự chính trị và các quy trình xây dựng kế hoạch ngân sách.
  • Củng cố hệ thống thông qua việc lồng ghép chương trình HIV vào các chương trình về chăm sóc sức khỏe, giáo dục và cung cấp các dịch vụ ngành khác hoặc cải thiện mối liên kết với các chương trình này.
  • Củng cố quan hệ đối tác: Sự tham gia tích cực và mạnh mẽ hơn của cộng đồng và các tổ chức xã hội dân sự sẽ giúp xây dựng các chương trình can thiệp thiết thực hơn, phù hợp và được đón nhận nhiều hơn cũng như bền vững hơn.
  • Bảo đảm sự hợp tác, điều phối đa ngành và xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi.

1.44 years
remaining
until 2015

1990 2015
Mục tiêu phát triển TNK 6
  1. Chặn đứng và bắt đầu thu hẹp sự lây lan của HIV/AIDS
    • Tỷ lệ phổ biến của HIV trong nhóm dân cư ở độ tuổi 15 – 24
    • Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục nguy cơ cao
    • Tỷ lệ dân số trong độ tuổi 15 – 24 có hiểu biết đúng và toàn diện về HIV/AIDS
    • Tỷ lệ đến trường của trẻ mồ côi so với trẻ không mồ côi trong độ tuổi 10 - 14
  2. Đến năm 2010, mọi đối tượng có nhu cầu đều được điều trị HIV/AIDS
    • Tỷ lệ dân số nhiễm HIV ở giai đoạn sau được tiếp cận với thuốc kháng virus