Xử lý ô nhiễm môi trường tại các điểm nóng bị ô nhiễm dioxin cao ở Việt Nam

Giới thiệu chung

Ô nhiễm TCDD (tetra chloro dibenzo-dioxin, aka dioxin) ở Việt Nam bắt nguồn từ cuộc chiến tranh xảy ra trong giai đọan 1961-1971 khi mà thuốc diệt cỏ đã được sử dụng để làm rụng lá cây rừng, phá huỷ mùa màng và xoá sạch các vành đai quân sự. Ô nhiễm TCDD đã gây ra các hậu quả rất nghiêm trọng đến môi trường và rủi ro cho sức khoẻ của con người. Những nghiên cứu ở Việt Nam và ở các khu vực bị ô nhiễm dioxin cao ở trên thế giới cho thấy Việt Nam có những khu vực bị ô nhiễm TCDD tồi tệ nhất trên thế giới.

Nồng độ dioxin ở trong đất ở những khu vực bị rải TCDD ở Việt Nam cho đến nay đã giảm xuống đến mức cơ sở. Tuy nhiên, ở những khu vực ở các sân bay – nơi lưu chứa và quản lý khối lượng lớn thuốc diệt cỏ, thì mức độ bị ô nhiễm dioxin vẫn còn rất cao. Có một số rào cản đã hạn chế Việt Nam trong việc xử lý các khu vực nóng bị ô nhiễm dioxin cao. Các chất dioxin tích tụ tại các khu vực nóng này tiếp tục trở thành các chất sinh học, phân tán trong môi trường địa phương và môi trường toàn cầu, qua bụi đất và các chất hữu cơ có chứa dioxin và được đưa vào các dòng nước, động thực vật hoang dã, và không khí và đang gây ra những hiểm hoạ rất nghiêm trọng cho sức khoẻ của con người, đặc biệt qua các hê sinh vật.

Dự án này sẽ giúp Chính phủ Vietnam loại bỏ các rào cản để cô lập/xử lý một cách có hiệu quả các nguyên vật liệu bị ô nhiễm dioxin cao ở ba khu vực nóng chủ đạo (Đà Nằng, Biên Hoà, và Phú cát) và giúp giải quyết các vấn đề kỹ thuật, thể chế, tài chính và các nguyên nhân gỗc rễ về khía cạnh xã hội để tạo cơ hôi cho Việt Nam xử lý thêm các khu vực liên quan.

Dự án này cũng sẽ đóng góp một phần quan trọng vào việc thực hiên Kế hoạch Thực hiện Quốc gia cho Công ước Stockhom về Các Chất hữu cơ Khó phân huỷ mà Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn năm 2002.

Kết quả chính của dự án là gì?

  • Dioxin tại các khu vực nóng trọng tâm được cô lập lại và xử lý.
  • Loại bỏ được rủi ro trong việc sử dụng đất ở các điểm nóng và xung quanh các  khu vực này và góp phần phục hồi môi trường
  • Các quy định quốc gia và năng lực thể chế được tăng cường

Tài chính, cơ quan quản lý, cơ quan thực hiện dự án



Mã số dự án Nguồn tài chính Cơ quan quản lý dự án Cơ quan thực hiện dự án
 00071224 Quĩ Môi trường Toàn cầu (GEF): US$ 4,977,000 và Các nguồn khác: US$ 32,340,000 Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE)  Văn phòng Ban Chỉ đạo 33, MONRE Đơn vị phối hợp: Bộ Quốc phòng, Ủy ban Nhân Dân tỉnh Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Định

Giải ngân trong các năm trước

Năm Giải ngân (USD)
2010 119.040
2011 885.537
2012 1.760.983
2013 1.704.684
Tổng quan dự án
Trạng thái
Đang hoạt động
Ngày bắt đầu dự án
Tháng 7-2010
Thời gian
2010-2014
Ðịa điểm
Toàn quốc (Tập trung vào Đà nẵng, Biên Hoà và Phú cát)
Lĩnh vực trọng tâm
Môi trường, Biến đổi khí hậu và Rủi ro thiên tai
Cán bộ Chương trình UNDP
Mr. Đào Xuân Lai; dao.xuan.lai@undp.org; Tel: (84 4) 3942 1495 ext. 178
Ðối tác
Mr. Lê Kế Sơn; leson@monre.gov,vn; Tel: (84-4) 3773 6354