Công tác xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số và đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam


© United Nations Viet Nam\2010\Aidan Dockery

Hỗ trợ công tác xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Từ giữa những năm 90, UNDP đã hỗ trợ Chính phủ giải quyết vấn nạn đói nghèo vốn ăn sâu bám rễ trong các vùng dân tộc thiểu số, trợ giúp từ giai đoạn đầu cho Chương trình Xóa đói giảm nghèo (HERP), Chương trình Phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi (SEDEMA) (còn được gọi là Chương trình 135) và Chương trình Mục tiêu quốc gia về giảm nghèo (NTP-PR). UNDP cũng đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban các vấn đề dân tộc thiểu số (CEMA) và Bộ Lao động, thương binh và xã hội (MoLISA) trong công tác xây dựng và thực hiện những chương trình mũi nhọn này, đồng thời đóng vai trò chủ chốt trong việc điều phối các nguồn tài trợ quốc tế có giá trị để hỗ trợ Chương trình 135 trong giai đoạn 2006-2011. 

Tiêu điểm

  • Sự trợ giúp từ UNDP được thực hiện thông qua một dự án hỗ trợ kỹ thuật, nhờ đó đã tăng giá trị của những chương trình trọng điểm quốc gia theo nhiều cách khác nhau.
  • Bản dự thảo Chiến lược An sinh xã hội Quốc gia giai đoạn 2011-2020 đã được soạn thảo với sự hỗ trợ kỹ thuật và tham vấn chính sách từ UNDP.

Sự trợ giúp từ UNDP được thực hiện thông qua một dự án hỗ trợ kỹ thuật, nhờ đó đã tăng giá trị của những chương trình trọng điểm quốc gia theo nhiều cách khác nhau. Dự án hỗ trợ kỹ thuật đã trợ giúp công tác nghiên cứu chính sách, phát triển chính sách, đào tạo cũng như xây dựng năng lực khác bao gồm việc tạo điều kiện cho những nhà hoạch định chính sách tiếp cận các mô hình và phương thức xóa đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số từ các nước như Trung Quốc và Ân Độ. Thông qua những dự án hỗ trợ kỹ thuật, nhiều công cụ và phương thức mới đã được xây dựng nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình, tính bền vững và sự tham gia của cộng đồng vào những chương trình này. Điển hình là việc sử dụng Phiếu đánh giá của công dân để thu thập ý kiến về các chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương; sử dụng các tài liệu hướng dẫn điều hành và duy trì hoạt động đầu tư về cơ sở hạ tầng và phân phối ngân sách được giao cho những hoạt động này; sử dụng các tài liệu hướng dẫn và đào tạo để tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào Chương trình 135; và thiết kế các tài liệu hướng dẫn cho Kiểm toán Nhà Nước Việt Nam (SAV) để cơ quan này có thể thực hiện tốt hơn công tác kiểm toán định kỳ cấp tỉnh cho Chương trình 135 (chương trình quốc gia duy nhất được SAV kiểm toán).

UNDP cũng trực tiếp hỗ trợ cho một cuộc khảo sát cấp cơ sở thực hiện vào năm 2007 tại các xã thuộc giai đoạn II của Chương trình 135 (Xem báo cáo “Phân tích Khảo sát cơ sở giai đoạn II Chương trình 135). Số liệu thu thập từ cuộc khảo sát này có thể được coi là cơ sở dữ liệu toàn diện và chất lượng nhất về cộng đồng dân tộc thiểu số đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại. Cuộc khảo sát, do Tổng cục Thống kê (GSO) thực hiện với sự trợ giúp kỹ thuật của UNDP, đã cung cấp cho những nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu các thông tin quan trọng về thực trạng đói nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số, có tác động lớn đến quá trình ra quyết định và xây dựng các chính sách giảm nghèo. UNDP cũng tiếp tục thực hiện các phân tích sâu hơn về vấn đề này trên cơ sở số liệu từ cuộc khảo sát nói trên, thông qua một dự án hỗ trợ kỹ thuật với CEMA để tăng cường năng lực cho công tác xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách dân tộc (Dự án EMPCD, giai đoạn 2008-2012). Một cuộc khảo sát tiếp theo của UNDP để đánh giá mức độ cải thiện các chính sách dân tộc dự định sẽ được tiến hành trong nửa cuối năm 2011.

Sự trợ giúp từ UNDP là công cụ để định hướng công tác xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam trong tương lai, đặc biệt là thông qua hai bản đánh giá giữa kỳ về các chương trình giảm nghèo. Bản đánh giá đầu tiên, “Phân tích hiện tại, Định hướng tương lai: Đánh giá Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xóa đói Giảm nghèo và Chương trình 135”, xuất bản năm 2004 là bản phân tích chi tiết về mọi mặt của chương trình này, sử dụng các công cụ như đánh giá lợi ích và khảo sát theo dõi chi tiêu công để xây dựng một bản báo cáo thiết thực và đáng tin cậy về tính hiệu lực và hiệu quả của các chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo của Chính phủ. Báo cáo đánh giá này là công cụ định hướng cho giai đoạn 2 2006-2010 của Chương trình 135, khuyến nghị nhiều sáng kiến đã từng được vận dụng trong giai đoạn 1 của chương trình.

Bản đánh giá giữa kỳ thứ hai của UNDP về các chương trình mục tiêu quốc gia được xuất bản năm 2009 với tiêu đề “Báo cáo đánh giá giữa kỳ Chương trình 135 II, giai đoạn 2006-2010”. Báo cáo này, cùng với nghiên cứu do UNDP và Quốc hội Việt Nam thực hiện năm 2008-2009 về công tác hoạch định chính sách giảm nghèo ở Việt Nam (xem ‘Công tác hoạch định - Các chương trình và Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam’) có ảnh hưởng lớn đến việc định hướng tầm nhìn của Chính phủ đối với giai đoạn tiếp theo của chương trình giảm nghèo, thể hiện trong Nghị định số 80 của Chính phủ, ban hành đầu năm 2011 về việc xây dựng một cơ chế thống nhất cho các chương trình giảm nghèo trong tương lai.

Cùng với việc ban hành Nghị định số 80, MoLISA cũng thừa nhận tầm quan trọng của báo cáo đánh giá giữa kỳ năm 2009, các cuộc thảo luận chính sách tiếp theo và những tham vấn của UNDP trong việc định hướng tầm nhìn của Chính phủ trong tương lai. Nghị định số 80, cùng với các khuyến nghị của UNDP, đảm bảo rằng các nỗ lực giảm nghèo trong tương lai sẽ tập trung vào những vùng dân tộc thiểu số nghèo nhất trong cả nước và mục tiêu giảm nghèo ở những khu vực này sẽ cao gấp đôi so với mục tiêu trung bình của quốc gia. Nhờ đó, việc đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo sẽ trở thành một ưu tiên chính sách. Nghị định cũng đảm bảo rằng các chính sách giảm nghèo trong tương lai sẽ được thực hiện đồng bộ và hài hòa với các chương trình mục tiêu khác và giữa các bộ ngành với nhau, để các chính sách này đi vào trọng tâm và đạt hiệu quả cao hơn theo như khuyến nghị từ các nghiên cứu chính sách của UNDP.

Phát triển hệ thống an sinh xã hội mang tính hòa nhập hơn ở Việt Nam

UNDP Việt Nam bắt đầu ủng hộ việc xây dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và hòa nhập kể từ năm 2005 bằng một báo cáo có tên gọi ‘Ngoài xoá đói giảm nghèo: Khuôn khổ hệ thống an sinh xã hội quốc gia hợp nhất ở Việt Nam’. Đây là báo cáo đầu tiên chỉ ra sự manh mún và tự phát của rất nhiều chính sách bảo trợ xã hội được tài trợ và thực hiện tại Việt Nam. Báo cáo đã phân tích đánh giá nhiều chính sách và chương trình an sinh xã hội tại thời điểm đó và nhận thấy có sự trộn lẫn giữa hoạt động hỗ trợ xóa đói giảm nghèo và các dịch vụ bảo trợ xã hội trong chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo. Quan trọng là báo cáo đã đặt ra những nguyên tắc chung để xây dựng một chương trình an sinh xã hội toàn diện và có hệ thống hơn tại Việt Nam.  

Báo cáo đã thu hút sự quan tâm và tranh luận sôi nổi ở cấp quốc gia về vấn đề này và kết quả là UNDP đã thực hiện thêm hai báo cáo nghiên cứu nữa. Hai báo cáo ‘An sinh xã hội ở Việt Nam lũy tiến đến mức nào?’ và ‘Mối liên quan giữa Tuổi cao và Nghèo đói ở Việt Nam’ được xuất bản vào tháng 8 năm 2007. Báo cáo đầu tiên sử dụng số liệu điều tra hộ gia đình để xác định các đối tượng đang được thụ hưởng các chương trình an sinh xã hội và tác động chung của những chương trình đó tới thu nhập và giảm nghèo, xem xét tổng thể dân số và toàn bộ hệ thống an sinh xã hội, bao gồm bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội, các quỹ bảo trợ xã hội và các chương trình quốc gia về giảm nghèo. Báo cáo thứ hai tập trung nghiên cứu nhóm người cao tuổi và hệ thống trợ cấp lương hưu tại Việt Nam. Cả hai báo cáo đều đưa ra ba kết luận. Thứ nhất, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam đang lũy thoái.  Thứ hai, nhóm những người nghèo được hưởng trợ cấp giáo dục và phúc lợi xã hội nhiều hơn nhóm những người ít nghèo hơn. Tuy nhiên, với lương hưu thì hoàn toàn ngược lại, người cao tuổi ở nhóm giàu hơn nhận tiền lương hưu cao hơn so với nhóm nghèo hơn. Thứ ba, sau khi tính phí sử dụng và chi tiêu cho y tế và giáo dục thì lợi ích từ trợ cấp an sinh xã hội phân phối cho nhóm đối tượng nghèo nhất giảm xuống bằng không.

Những phát hiện và khuyến nghị chính sách của những nghiên cứu nói trên càng thu hút thêm nhiều sự quan tâm đến chủ đề này, cả trong giới học giả và những nhà hoạch định chính sách, những người nhìn chung tin rằng hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam là lũy tiến.

Kể từ nghiên cứu đầu tiên đến nay, một loạt những cuộc thảo luận chính sách do UNDP hỗ trợ đã được tổ chức, với sự tham gia của các bên chủ chốt như Quốc hội và Hội đồng lý luận Trung ương.  

Những báo cáo và nghiên cứu của UNDP cùng các cuộc thảo luận chính sách tiếp theo đóng vai trò then chốt để biến vấn đề an sinh xã hội thành một trong những ưu tiên phát triển hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Những báo cáo và các cuộc thảo luận này cũng hỗ trợ tích cực cho các bộ ngành của Chính phủ tìm ra phương thức để tăng cường tính hiệu quả và hiệu lực của các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo nói chung cũng như việc cung cấp các dịch vụ bảo trợ xã hội nói riêng.

Vấn đề an sinh xã hội đang là vấn đề nóng trong chương trình làm việc của Chính phủ, nằm trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 cũng như trong dự thảo Chiến lược Phát triển Kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 và dự thảo Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015.

Thêm vào đó, bản dự thảo Chiến lược An sinh xã hội Quốc gia giai đoạn 2011-2020 đã được soạn thảo với sự hỗ trợ kỹ thuật và tham vấn chính sách từ UNDP.

Bản chiến lược dự thảo đề xuất xây dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và hòa nhập hơn, đặc biệt đối với những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội. Bản dự thảo cũng tập trung hơn đến việc đảm bảo sự tham gia chủ động của Chính phủ trong thị trường lao động và công tác giảm nghèo, cũng như giải quyết các rủi ro liên quan đến vấn đề thu nhập và việc làm không ổn định, tuổi già và các thảm họa thiên nhiên. Cuối cùng, việc Chính phủ quyết định bắt tay xây dựng một khuôn khổ chung, toàn diện, ở cấp quốc gia về xóa đói giảm nghèo tạo ra cơ hội thuận lợi để thực hiện các chính sách giảm nghèo và bảo trợ xã hội theo hướng chặt chẽ và hài hòa hơn.

"Trong khi Việt Nam đang trên con đường trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình thì việc đảm bảo rằng không có đối tượng nào trong xã hội bị tụt hậu ngày càng trở nên quan trọng. Cái nghèo đã ăn sâu bám rễ trong các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, sự bất bình đẳng và mất cân đối trong thu nhập cũng như khả năng tiếp cận các cơ hội và dịch vụ cần phải được giải quyết.  Mấu chốt của vấn đề này chính là một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và hòa nhập, cùng với một chương trình mục tiêu và tập trung về xóa đói giảm nghèo để giải quyết tình trạng nghèo đói từ lâu đời trong các dân tộc thiểu số. Việc những vấn đề này đang được ưu tiên trong chương trình làm việc của Chính phủ là rất đáng khích lệ. Sự hỗ trợ từ UNDP Việt Nam cho thấy một cách rõ ràng những gì chúng ta có thể đạt được thông qua các nghiên cứu có chất lượng và và sự chủ động trong xây dựng chính sách với sự tham gia của các ban ngành có liên quan,” ông Nguyễn Tiên Phong, Trưởng bộ phận Giảm nghèo và Phát triển xã hội của UNDP Việt Nam, phát biểu.

Ấn phẩm
Tác động của chương trình 135 giai đoạn II qua lăng kính hai cuộc điều tra đầu kỳ và cuối kỳ

Mục tiêu chính của Báo cáo“Tác động của Chương trình 135 giai đoạn II qua lăng kính hai cuộc điều tra đầu kỳ và cuối kỳ” đo lường tác động của chương trình đến các kết quả mong đợi, chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu về đói nghèo, thu nhập, sản xuất nông nghiệp, điều kiện nhà ở và khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng.

Xem thêm các ấn phẩm khác