Trả lời phỏng vấn: Ông John Hendra, Điều phối viên Thường trú LHQ trả lời Viet Nam Economic Times về tình trạng bất bình đẳng

09 thg 4 2007

Việt Nam - Tuy Việt Nam đã đạt được thành tựu rất to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, song vẫn xuất hiện những sự khác biệt nghiêm trọng. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam với những thành tựu như: Việt Nam vừa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đạt kết quả phát triển con người đầy ấn tượng, có mức GDP không ngừng tăng lên và đặt mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình vào năm 2010, đã đến lúc phải đảm bảo tăng tối đa đối tượng dân cư được thụ hưởng những kết quả phát triển này. Điều phối viên Thường trú LHQ John Hendra đề cập tới tính chất đa diện của tình trạng bất bình đẳng và Việt Nam cần phải giải quyết vấn đề này như thế nào để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) ở từng tỉnh, từng huyện và từng xã.


1. Theo Ông, với những đặc điểm chính trị và xã hội như hiện nay, Việt Nam có thể hạn chế tình trạng bất bình đẳng về mặt phát triển thành công hơn so với các nước khác hay không?

Trước tiên, cần thấy rằng tình trạng bất bình đẳng diễn ra trên nhiều khía cạnh như sau:

- Khía cạnh thu nhập hay tiêu thụ được đo bằng hệ số gini;
- Khía cạnh tài sản, có nghĩa là một số người được kiểm soát nhiều hơn đối với những tài sản có giá trị như đất đai, vốn hay thậm chí tri thức, giáo dục, và vì vậy có nhiều sự lựa chọn trong cuộc sống;
- Khía cạnh địa lý, đó là sự khác biệt về cơ hội trong cuộc sống của người dân giữa các tỉnh hay các huyện cũng như giữa thành thị và nông thôn;
- Khía cạnh giới, với thực tế là người phụ nữ có mức thu nhập thấp hơn trong mỗi ngày lao động, không được làm những công việc có mức thù lao cao hơn cũng như phải cáng đáng hai gánh nặng cùng một lúc: công việc gia đình và công việc tạo thu nhập; và
- Khía cạnh dân tộc, có nghĩa là một số dân tộc không có các cơ hội về phát triển con người như những dân tộc khác.
Việt Nam đã bước vào giai đoạn cải cách trong bối cảnh mức độ bất bình đẳng rất thấp về hầu hết mọi khía cạnh đó. Thu nhập được phân phối đồng đều, chủ yếu là do hầu hết mọi người dân đều nghèo. Tình hình đó là không thể chấp nhận được và phải thay đổi cùng với sự tăng trưởng kinh tế vì thị trường mang lại lợi ích cho một số người có năng lực nhất định hay cho những người cung cấp các loại hàng hoá và dịch vụ mà thị trường có nhu cầu. Tuy không tránh khỏi tình trạng bất bình đẳng ở mức độ nhất định trong nền kinh tế thị trường, song điều quan trọng là con người ta không làm giàu trên cơ sở những mối quan hệ về chính trị, lạm dụng công quyền hay những hoạt động kinh doanh không công bằng.

Đất đai không phải là yếu tố gây bất bình đẳng vào thời điểm bắt đầu cải cách vì giai đoạn chuyển đổi chế độ sản xuất nông nghiệp từ hợp tác xã sang hộ gia đình đã để lại cho Việt Nam một mô hình phân phối ruộng đất tương đối bình đẳng. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì ở các khu vực khác trên thế giới như Châu Mỹ La tinh, tác nhân dẫn đến bất bình đẳng là sự phân cực ở nông thôn, trong đó một số ít điền chủ nắm quyền kiểm soát phần lớn ruộng đất, còn hầu hết mọi người khác không có tấc đất cắm rùi. Giờ đây, vấn đề đất đai ngày càng trở nên phức tạp hơn và là một nguyên nhân gây bất bình đẳng vì tình trạng đầu cơ tích trữ đã đội giá đất lên, và làm cho một số người bỗng chốc trở thành rất giàu có. Một điều kiện quan trọng để giải quyết tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam là đảm bảo cho thị trường đất đai được chi phối và vận hành bởi nhà nước pháp quyền.      

So với nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam cũng đã làm rất tốt việc phân phối lại nguồn lực giữa các vùng. Các chương trình đầu tư công cộng và xoá đói giảm nghèo dành ưu đãi cho các vùng nghèo và vùng có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Cam kết chính trị của Chính phủ Việt Nam về việc hỗ trợ các địa phương nghèo góp phần ngăn chặn tình trạng nghèo về khía cạnh địa lý. Liên Hợp Quốc tự hào đã được phối hợp chặt chẽ với Chính phủ trong Chương trình 135 về phát triển cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa và các chương trình mục tiêu quốc gia của Việt Nam ngay từ khi mới bắt đầu triển khai.

Chúng tôi nghe nói nhiều về tình trạng bất bình đẳng đang gia tăng giữa thành thị và nông thôn. Một phần tình trạng bất bình đẳng này là không thể tránh khỏi khi mức thu nhập ở thành thị tăng nhanh hơn ở nông thôn. Song có nhiều việc Chính phủ có thể làm để đảm bảo cho dân cư nông thôn được tiếp cận với các dịch vụ y tế và giáo dục chất lượng cao, và như vậy họ có cơ hội bình đẳng trong cuộc sống như dân cư thành thị. Chi phí cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ giờ đây là nguyên nhân quan trọng khiến cho các hộ gia đình bị tái nghèo ở Việt Nam. Liên Hợp Quốc chúng tôi coi đây là thách thức chính trong thời gian tới.

Mức độ bất bình đẳng về giới ở Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước đang phát triển khác. Phụ nữ tham gia trong lực lượng lao động với tỷ lệ cao, và ngày càng có nhiều phụ nữ nắm giữ các vị trí quản lý ở cấp cao nhất. Song cần phải cố gắng hơn nữa để phá vỡ sự phân chia lao động theo giới khiến cho phụ nữ không thể có được những việc làm mang lại thu nhập cao hơn cũng như để xoá bỏ khoảng cách về mức lương giữa nam giới và phụ nữ. Một nhu cầu quan trọng của phụ nữ Việt Nam là được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc trẻ em có chất lượng vì họ phải vật lộn với hai gánh nặng cùng một lúc là công việc gia đình và công việc tạo thu nhập.

Tóm lại, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để đạt được kết quả tăng trưởng, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Việc quản lý thị trường đất đai, cung cấp các dịch vụ y tế và giáo dục chất lượng cao cho mọi người dân, giải quyết tốt hơn những bất bình đẳng giới thông qua bộ luật mới đây về vấn đề này và đảm bảo cho đời sống kinh tế được chi phối bởi nhà nước pháp quyền là những yếu tố then chốt để đảm bảo tiếp tục tăng trưởng kinh tế mà không sinh ra tình trạng bất bình đẳng trong những năm tới.

2. Theo Ông, Việt Nam có thể học được những kinh nghiệm gì từ các nước khác để hạn chế tình trạng bất bình đẳng?

Trong những năm qua, chúng ta đã biết được nhiều điều về những gì chi phối tình trạng bất bình đẳng trên thế giới. Có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm tích cực và kể cả tiêu cực về vấn đề này.

Có những bài học tích cực liên quan tới các chương trình quốc gia cụ thể được áp dụng ở các nước giàu cũng như các nước nghèo mà đã phát huy tác dụng tốt trong việc hạn chế tình trạng bất bình đẳng. Trong số đó quan trọng nhất là các chương trình về y tế và giáo dục nhằm đảm bảo cho mọi người dân, bất kể thành phần xuất thân, giới hay sắc tộc như thế nào, đều được tiếp cận với các dịch cơ bản có chất lượng. Có một bài học dường như phổ biến trên khắp thế giới, đó là tình trạng bất bình đẳng gia tăng khi các dịch vụ y tế và giáo dục được cung cấp theo khả năng chi trả của người dân.

Ngoài ra còn có các chương trình trợ giúp xã hội nhằm vào các bà mẹ. Chế độ trợ cấp tiền mặt cho các bà mẹ áp dụng ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi đã tỏ ra là một vũ khí rất hiệu quả chống lại tình trạng nghèo ở trẻ em khi được kết hợp với việc tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục có chất lượng.

Những nước thành công nhất là những nước đã kết hợp hệ thống đánh thuế công bằng trên diện rộng trong các tầng lớp nhân dân với hệ thống trợ cấp công bằng và cũng mang tính phổ cập. Không thể dễ dàng tạo ra nền văn hoá nộp thuế, song điều đó rất quan trọng để giúp Chính phủ có khả năng đầu tư kinh phí cho các chương trình hỗ trợ những đối tượng nghèo nhất trong xã hội.

Cũng có rất nhiều bài học tiêu cực khi đề cập tới bất bình đẳng xã hội. Một số nước đã lệ thuộc quá nhiều vào chế độ thu phí sử dụng dịch vụ trong lĩnh vực y tế và giáo dục, và vì vậy tình trạng bất bình đẳng ở những nước này đã gia tăng nhanh chóng. Tham nhũng và lợi dụng công quyền là những nguyên nhân phổ biến dẫn đến bất bình đẳng ở các nước đang phát triển và ở cả các nước giàu.

Việt Nam cũng có một số bài học kinh nghiệm để chia sẻ với thế giới. Trong đó bài học quan trọng là Việt Nam có truyền thống cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục cho toàn dân từ bao lâu nay, và điều đó lý giải cho kết quả tích cực mà Việt Nam đã đạt được trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Một bài học hay nữa là Chính phủ Việt Nam cam kết phát triển cơ sở hạ tầng và tạo cơ hội phát triển cho các tỉnh, huyện và xã nghèo. Việc tiếp tục phát huy những thành tựu này sẽ là yếu tố then chốt để đạt được kết quả tăng trưởng, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội về lâu dài.