Helen Clark: “Thế giới năm 2050: Công bằng, bền vững hơn –hay kém đi?”

07 thg 11 2012

image


Helen Clark, Tổng Giám đốc UNDP: “Thế giới năm 2050: Công bằng, bền vững hơn – hay kém đi?” – Phát biểu trước Hội đồng các Vấn đề Thế giới Bắc California.
Tôi xin cảm ơn Hội đồng các Vấn đề Quốc tế đã mời tôi tới thực hiện bài giảng này trong khuôn khổ chuỗi bài giảng “Hiểu rõ hơn về các thách thức phát triển”San Francisco, California - .

Là Tổng Giám đốc Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, tôi nhận thấy chủ đề của chuỗi bài giảng này và sự quan tâm của Hội đồng các Vấn đề Quốc tế đối với tương lai thế giới năm 2050 có nhiều liên quan đến các hoạt động của chúng tôi nhằm giúp giải quyết một trong những thách thức cấp thiết nhất của nhân loại: làm thế nào để đẩy mạnh phát triển con người mà không bị vượt quá những ranh giới tự nhiên.

Tôi xin cảm ơn Hội đồng các Vấn đề Quốc tế đã mời tôi tới thực hiện bài giảng này trong khuôn khổ chuỗi bài giảng “Hiểu rõ hơn về các thách thức phát triển”.

Là Tổng Giám đốc Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, tôi nhận thấy chủ đề của chuỗi bài giảng này và sự quan tâm của Hội đồng các Vấn đề Quốc tế đối với tương lai thế giới năm 2050 có nhiều liên quan đến các hoạt động của chúng tôi nhằm giúp giải quyết một trong những thách thức cấp thiết nhất của nhân loại: làm thế nào để đẩy mạnh phát triển con người mà không bị vượt quá những ranh giới tự nhiên.

Đây là một thời điểm thích hợp để đề cập đến những vấn đề này, chỉ vài tháng sau khi kết thúc Hội nghị của LHQ về Phát triển Bền vững Rio+20 và khi các quốc gia thành viên LHQ đang bắt đầu thảo luận về khuôn khổ phát triển hậu 2015, nhằm định hướng cho các tư duy và hoạt động phát triển trong nhiều năm tới.

Đề tài bài giảng của tôi tối nay là “Thế giới năm 2050: Công bằng, bền vững hơn – hay kém đi?”
Tôi xin phép được bắt đầu bằng những hình dung về năm 2050. Nghe có vẻ rất xa xôi. Thế nhưng, với một nửa dân số thế giới hiện nay đang ở độ tuổi 30, và tuổi thọ trung bình toàn thế giới là khoảng 70 tuổi, chúng ta có thể mong đợi một điều là trên một nửa số người đang sống ngày hôm nay sẽ vẫn còn sống vào năm 2050. Năm 2050 không phải là một năm không có thực trong một tương lai khoa học giả tưởng.

Tôi nói ra điều này không phải có ý là nếu chúng ta không còn sống vào năm 2050 thì trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai sẽ bớt nặng nề. Năm 1987, Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (Ủy ban Brundtland) đã định nghĩa phát triển bền vững là “đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không phải thỏa hiệp bằng khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của chính họ”.

Định nghĩa này đã trở thành định hướng hoạt động cho UNDP kể từ đó. Nó thể hiện một nguyên lý cơ bản về sự công bằng: không nên chối bỏ khả năng hay cơ hội của bất cứ ai được sống cuộc sống mà họ cho là có giá trị do giới tính, dân tộc, tôn giáo hay bất cứ yếu tố nào khác, trong đó có yếu tố thế hệ mà họ được sinh ra.

Trên cơ sở nhận thức rằng những hành động của chúng ta ngày hôm nay sẽ tác động đến thế giới của chúng ta ngày mai, cần hành động phù hợp để có thể đạt được ‘tương lai chúng ta muốn có’ – lời kêu gọi từ Hội nghị Rio+20.

Bài giảng của tôi tối nay sẽ giải quyết ba vấn đề:

  • Thứ nhất, tôi sẽ phân tích những yếu tố tạo nên sự thay đổi sẽ tác động đến tương lai thế giới vào năm 2050;
  • Thứ hai, tôi sẽ bảo vệ lập luận rằng nghèo đói, bất công và bền vững môi trường là những thách thức toàn cầu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và cần được giải quyết đồng thời;
  • Thứ ba, tôi sẽ trình bày việc các quốc gia và cộng đồng, với sự định hướng của các tiêu chuẩn quốc tế, đang vận dụng các cách tiếp cận sáng tạo ra sao để giải quyết các thách thức này một cách đồng bộ.

1. Các yếu tố tạo nên sự thay đổi trên toàn thế giới và dự báo đến năm 2050
Vậy đâu là một số xu hướng và dự báo đã được các nhà nghiên cứu xác định là quan trọng đối với việc định hình thế giới vào năm 2050? Tôi xin được tập trung vào 3 yếu tố chính tạo nên sự thay đổi, bao gồm dân số, những hạn chế về môi trường, và những thay đổi về địa lý chính trị.

a. Các sức ép dân số và đô thị hóa

Theo ước tính của LHQ, dân số thế giới sẽ tiến tới con số 9,3tỉ người vào năm 2050 – nhiều hơn 2,3 tỉ người so với hiện nay. Xu hướng dân số này được dự báo sẽ gắn liền với quá trình đô thị hóa và già hóa dân số nhanh chóng. Cả hai yếu tố này đều cần được cân nhắc trong quá trình lập kế hoạch phát triển.
Dự báo khu vực thành thị sẽ là nơi diễn ra toàn bộ quá trình gia tăng dân số này. Hiện nay trên một nửa dân số thế giới sống ở các đô thị, nhưng tỉ lệ này không giống nhau ở các khu vực khác nhau. Dự báo Châu Á sẽ đạt tỉ lệ này vào năm 2020 và Châu Phi vào năm 2035.
Như vậy, tính đến năm 2050, dân số đô thị sẽ gần như tăng gấp đôi, từ 3,6 tỉ người năm 2011 lên 6,3 tỉ người, và sẽ chiếm khoảng 68% tổng dân số thế giới. Hầu hết sự gia tăng dân số đô thị này sẽ tập trung ở các quốc gia đang phát triển.
Tổ chức Y tế Thế giới dự đoán rằng đến năm 2050, tỉ lệ dân số trên 60 tuổi của cả thế giới sẽ tăng gấp đôi từ 11% năm 2000 lên 22%. Năm 2050, lần đầu tiên trong lịch sử, số lượng người già (trên 60 tuổi) sẽ vượt số lượng người trẻ (dưới 15 tuổi).
Sự gia tăng dân số nhanh chóng này, cùng với hiện tượng đô thị hóa và già hóa dân số, sẽ đem đến cả cơ hội và thách thức. Một số ví dụ có thể kể đến là:

  • Cần có đủ nguồn cung lương thực cho số dân lớn này. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho nông dân và những người hoạt động trong lĩnh vực chế biến lương thực, thực phẩm, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi phải thích nghi tốt hơn với các điều kiện khí hậu nhiều biến động vốn đã và đang ảnh hưởng xấu tới sản xuất lương thực;
  • Các hệ thống hưu trí và an sinh xã hội sẽ cần được củng cố để có thể chu cấp cho bộ phận dân số sống lâu hơn và làm việc đến độ tuổi cao hơn;
  • Các hệ thống y tế sẽ phải đáp ứng nhu cầu của nhiều người già hơn, và phải giải quyết sự gia tăng những bệnh tật không lây lan đã được dự báo. Những bệnh tật này vốn thường được nhắc đến như một vấn đề của các nước phát triển, nhưng hiện giờ cũng đang gây nên những thách thức to lớn ở các nước đang phát triển;
  • Các hệ thống quy hoạch và quản lý đô thị sẽ cần được nâng cấp để giải quyết sự gia tăng đột biến nhu cầu nhà ở, điện, nước, y tế, giáo dục, giao thông, năng lượng và các dịch vụ khác;
  • Các yếu tố nguyên nhân và hệ quả của bất ổn định xã hội – trong đó có nghèo đói, bạo lực và bất bình đẳng – sẽ cần được theo dõi và giải quyết;
  • Các quốc gia đang phát triển có thể sẽ đạt được những lợi ích đáng kể từ lực lượng dân số trẻ của mình, nhưng điều đó chỉ trở thành hiện thực nếu họ cũng đầu tư đáng kể vào dân số trẻ, và nếu việc làm và cơ hội cho người trẻ tuổi trở thành một ưu tiên cụ thể và hàng đầu trong chính sách công.

Mặc dù danh sách các thách thức này khá dài nhưng có một thực tế là các xu hướng dân số thường là có thể dự đoán được và có thể lập kế hoạch xử lý từ sớm. Các xu hướng này cũng không gây tranh cãi nhiều như vấn đề tôi sẽ trình bày sau đây, liên quan đến các áp lực về môi trường đối với hành tinh chúng ta.

b. Biến đổi khí hậu, áp lực đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và nguy cơ thiên tai
Biến đổi khí hậu là một thách thức lớn đối với phát triển ngày nay. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD ước tính đến năm 2050 lượng phát thải khí các-bon sẽ tăng hơn gấp đôi so với năm 1990. Điều này đặt những thành tựu phát triển mà chúng ta đã phải vất vả mới có được trước nguy cơ bị hủy hoại, làm phức tạp thêm công việc của những người làm việc trong lĩnh vực phát triển như chúng ta.
Có một sự nhất trí rộng rãi dựa trên cơ sở khoa học rằng nếu không hành động khẩn trương thì thế giới sẽ vượt quá cái gọi là ‘ranh giới tự nhiên cho hành tinh’ về khí hậu và các khía cạnh khác. Đối với khí hậu, chúng ta biết điều đó có nghĩa là ‘những sự biến đổi không thể đẩy lùi được và gây hậu quả to lớn’. Đối với đa dạng sinh học, điều đó có nghĩa là sự biến mất của các giống loài. Đối với vấn đề nước, điều đó có thể có nghĩa là việc tiếp cận với các nguồn nước khan hiếm không chỉ là một việc khó khăn mà còn có thể gây mâu thuẫn, tranh chấp.
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu đã kết luận rằng sự gia tăng những hiện tượng thời tiết cực đoan hiện đã là một xu hướng dễ nhận thấy. Tác động của xu hướng này bao gồm sự tàn phá các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đe dọa an ninh lương thực và sinh kế của người dân; thiên tai xảy ra thường xuyên hơn, từ lũ lụt đến nắng nóng và hạn hán; và sự gia tăng các mâu thuẫn, tranh chấp liên quan đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên xảy ra trong và xuyên biên giới các nước.
Một vấn đề mà tôi đặc biệt quan tâm là những nhóm người và những đối tượng hiện đã khó khăn sẽ phải đối mặt với những hậu quả khắc nghiệt nhất của sự xuống cấp môi trường. Điều này là do:

  • Rất nhiều người nghèo phải dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tìm kế sinh nhai. Phụ nữ và trẻ em gái ở các nước đang phát triển – những người thường phải chịu trách nhiệm đi kiếm nước và nhiên liệu – sẽ phải chịu thêm nhiều gánh nặng khi mà các nguồn tài nguyên này trở nên khan hiếm hơn và xa nơi ở của họ hơn.
  • Sự gia tăng số lượng người định cư không chính thức ở nhiều quốc gia, dưới tác động của đô thị hóa và di cư, đã dẫn đến sự gia tăng những môi trường sống không ổn định. Những cộng đồng dễ bị tổn thương và ở ngoài lề xã hội phải gánh chịu nhiều hơn các tác động của thiên tai cũng chính vì điều này. Tôi đã nhận thấy tác động này khi tới thăm các khu dân cư ở Port-au-Prince, Haiti, nơi người dânsống bám vào các khe núi sâu. Các khu dân cư này trở nên bất ổn địnhsau trận động đất tháng 1/2010, và bị đe dọa bởi lở đất và/ hoặc lũ lụt khi diễn ra các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Với sự gia tăng nhanh chóng các cộng đồng đô thị đến năm 2050 như đã được dự đoán, các thành phố sẽ còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn hơn nữa. Người nghèo sẽ tiếp tục phải mang “gánh nặng kép” là các nguy cơ liên quan đến môi trường, cả ở môi trường ngay bên cạnh do ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và điều kiện vệ sinh kém, và các xu hướng dài hạn của toàn cầu như các hiện tượng thời tiết cực đoan và mực nước biển dâng.
Những tranh chấp về tài nguyên thiên nhiên cũng dễ xảy ra hơn ở những nơi quản trị nhà nước kém, với công tác quản lý đất đai và các nguồn tài nguyên khác còn yếu kém hoặc chứa đựng sự bất công. Điều này sẽ trở nên trầm trọng hơn dưới các áp lực về môi trường và dân số mà thế giới phải đối mặt vào năm 2050.

c. Toàn cầu hóa, những thay đổi về địa lý – chính trị, và vai trò của các nhân tố phi nhà nước
Chúng ta đang sống trong một thời đại toàn cầu hóa và phụ thuộc lẫn nhau chưa từng thấy, khi mà tác động của các chính sách, quyết định và sáng kiến ở một nơi nhất định có thể gây ảnh hưởng trên khắp trái đất.
Gần đây nhất, khủng hoảng nảy sinh từ các thị trường phương Bắc đã lan tới mọi ngóc ngách của trái đất, ảnh hưởng tới cả những người nghèo nhất và những quốc gia xa xôi nhất do nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của họ giảm sút và giá các mặt hàng xuất khẩu cũng giảm, do sự biến động gia tăng trong các dòng chảy vốn tư bản và giá hàng hóa, và lượng tiền gửi ít đi.
Nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau này cũng có thể đem lại những lợi ích dưới hình thức các cơ hội việc làm mới và sự phổ biến các sáng kiến và công nghệ mới tạo động lực cho phát triển. Chúng ta đã thấy ở Châu Phi các công nghệ thông tin và truyền thông có thể đưa các dịch vụ như giao dịch ngân hàng qua điện thoại di động đến với các khu vực dân số trước đó ít được tiếp cận các dịch vụ - và ngoài ra còn có vô số ứng dụng của các công nghệ như thế nữa.
Sự đi lên của các nền kinh tế lớn ở phía Nam, và những chuyển biến chính trị đang diễn ra ở khu vực các quốc gia Ả Rập cũng như ở bất cứ đâu khác, hiện đã và đang tác động đến các mô hình quản trị kinh tế và chính trị truyền thống của thế giới, cũng như đến các khuôn khổ hợp tác phát triển.
Các yếu tố tạo nên sự thay đổi về địa lý chính trị bao gồm:

  • Các làn sóng dân chủ - ở Châu Âu sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, ở Châu Mỹ Latinh sau thời kỳ của các tướng lĩnh, ở một số khu vực thuộc Đông Nam Á, và ở khu vực các quốc gia Ả Rập.
  • Sự đi lên của các nền kinh tế siêu cường ở phía Nam, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil đã có mặt trong danh sách 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới.
  • Hợp tác Nam – Nam, thông qua trợ giúp kỹ thuật, viện trợ, cho vay, thương mại, đầu tư, và chia sẻ kiến thức, hiện đang phát triển mạnh mẽ.

Việc nhận thức tốt hơn rằng những giá trị chung của toàn thế giới không thể chỉ do một quốc gia gìn giữ và bảo vệ, và rằng các mối đe dọa và thách thức mới nảy sinh đòi hỏi phải có sự phối hợp hành động, đã dẫn đến những quan hệ đối tác mới không chỉ giữa các quốc gia mà còn là giữa các nhân tố phi nhà nước thuộc khu vực tư nhân, xã hội dân sự, và các quỹ từ thiện lớn. Vai trò của các nhân tố phi nhà nước trong quá trình phát triển của địa phương, quốc gia, khu vực và thế giới sẽ còn tiếp tục gia tăng.
Từ xu hướng đến dự báo
Các xu hướng dân số, môi trường, kinh tế và địa lý chính trị tôi vừa mô tả sẽ có tác động trực tiếp đến việc giải quyết các vấn đề xóa đói giảm nghèo và phát triển trên diện rộng, và đến tương lai thế giới vào năm 2050.
Liệu thế giới đó có công bằng hơn, bền vững hơn hay không phụ thuộc vào các lựa chọn chính sách ở cấp độ toàn cầu, quốc gia, công ty và xã hội.
Ở mỗi cấp độ, những người có vai trò đưa ra quyết định cần phải nhạy bén trước những thách thức mới nảy sinh mà chúng ta chưa thể dự báo được trước từ hôm nay, và cần phải làm được điều đó thông qua các quan hệ đối tác và các sáng kiến mới. Cách đây 40 năm, dịch bệnh HIV/AIDS còn chưa khởi phát. Vậy nhưng khi nó bắt đầu, nó đã để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển ở một số quốc gia, ví dụ như làm giảm tuổi thọ trung bình của người dân, chi phí điều trị gia tăng gây ảnh hưởng đến ngân sách y tế và ngân sách phát triển, năng suất lao động giảm, gánh nặng đè thêm lên vai người phụ nữ, và sự gia tăng số lượng trẻ mồ côi không nơi nương tựa.
Các xu hướng và nguy cơ có thể được mô hình hóa nhằm giúp chúng ta lập kế hoạch và cung cấp thông tin cho các quyết định chính sách. Báo cáo Phát triển Con người năm 2011 của UNDP về bình đẳng và bền vững đưa ra một số viễn cảnh khác nhau về tương lai thế giới năm 2050, dựa trên những tiến bộ đạt được trong công tác giải quyết những nguy cơ về bất bình đẳng và môi trường.
Trước khi phân tích sâu vấn đề này, tôi xin được định nghĩa về ‘phát triển con người’ –một khuôn khổ mà UNDP vẫn hướng tới trong các hoạt động của mình kể từ khi công bố Báo cáo Phát triển Con người đầu tiên năm 1990. Phát triển con người được định nghĩa là mở rộng những sự lựa chọn và sự tự do cho con người, tạo điều kiện cho họ sống lâu và sống khỏe mạnh, được học hành và có mức sống tốt.
Với việc sử dụng Chỉ số Phát triển Con người, bao hàm các khía cạnh sức khỏe và giáo dục, bên cạnh GDP, Báo cáo Phát triển Con người hàng năm của UNDP xếp hạng các quốc gia bằng thước đo tổng hợp này, trên cơ sở tin tưởng rằng đó là một thước đo tốt hơn so với việc chỉ sử dụng GDP.
Báo cáo Phát triển Con người năm 2011 đã xây dựng ba viễn cảnh, mô hình hóa nhiều xu hướng suy thoái môi trường và bất bình đẳng khác nhau, cũng như các hệ quả của chúng đối với phát triển con người trong bốn thập kỷ tới.
Viễn cảnh "cơ bản", trong trường hợp này là viễn cảnh “tốt nhất”, dựa trên giả định rằng các mối đe dọa và nguy cơ về môi trường và bất bình đẳng sẽ rất ít thay đổi. Theo viễn cảnh này, HDI toàn cầu có thể tăng thêm 19% vào năm 2050 so với hiện nay. Tỉ lệ cải thiện phát triển con người này tương tự với tỉ lệ đạt được giữa các năm 1990 và 2010.
Theo những dự đoán này, HDI sẽ tăng nhanh hơn ở các quốc gia đang phát triển, khiến cho trình độ phát triển của các quốc gia trên thế giới tiến đến gần nhau hơn. Ở khu vực Châu Phi cận Sahara, HDI có thể sẽ tăng thêm 44% - mức tăng lớn nhất trên toàn thế giới, đưa phần lớn châu lục này lên các trình độ phát triển con người mà hiện đang được xếp hạng trung bình hoặc cao.
Nhưng Báo cáo cũng đưa ra một thông điệp quan trọng: viễn cảnh này rất khó có thể xảy ra, trừ khi chúng ta thực hiện những bước đi táo bạo nhằm ngăn chặn những thảm họa môi trường trong tương lai, đảm bảo môi trường không bị xuống cấp thêm nữa, và giảm thiểu sự bất bình đẳng trong nội bộ và giữa các quốc gia.
Tiếp theo đó, một viễn cảnh “những thách thức môi trường" đã được xây dựng, trong đó có tính tới tác động của hiện tượng nóng lên của toàn cầu đối với sản xuất nông nghiệp; các thách thức liên quan tới nước, vệ sinh và ô nhiễm; sự bất bình đẳng gia tăng và các hệ quả của nó – ví dụ như khả năng xảy ra xung đột giữa các quốc gia, nhà nước sẽ tăng cao. Trong mô hình này, mức gia tăng HDI toàn cầu được dự báo sẽ thấp hơn 8 điểm phần trăm so với viễn cảnh “cơ bản”, và đối với khu vực Châu Phi cận Sahara thì con số này sẽ bị giảm đi 12 điểm phần trăm.
Trong một viễn cảnh tối tăm hơn thế nữa với tên gọi "thảm họa môi trường”, với các mức độ ảnh hưởng lớn hơn, HDI toàn cầu sẽ thấp hơn 15 điểm phần trăm so với viễn cảnh “cơ bản” vào năm 2050. Tác động lớn nhất sẽ xảy ra ở khu vực Châu Phi cận Sahara, với HDI thấp hơn 24 điểm phần trăm so với viễn cảnh “cơ bản”, và ở Nam Á, với HDI thấp hơn 22 điểm phần trăm.
Nhìn chung đối với viễn cảnh xấu nhất này thì những tiến bộ về phát triển con người sẽ diễn ra hết sức chậm chạp, và thậm chí còn bị đi lùi ở các khu vực Châu Phi cận Sahara và Nam Á vào năm 2050. Rõ ràng là chúng ta cần hành động ở mọi cấp độ để ngăn chặn viễn cảnh này xảy ra trong thực tiễn.

2. Trọng tâm mới về bất bình đẳng và bền vững

Thông điệp chính từ Báo cáo Phát triển Con người năm 2011 và các dự báo của nó là để duy trì và đẩy mạnh tiến độ phát triển con người, chúng ta cần giải quyết đồng thời hai vấn đề bất bình đẳng và bền vững.
Báo cáo Phát triển Con người năm 1995 xác định 3 yếu tố cơ bản của mô hình phát triển con người:

  • Bình đẳng và cơ hội cho tất cả mọi người trong xã hội;
  • Sự bền vững của các cơ hội đó từ thế hệ này sang thế hệ khác; và
  • Nâng cao vị thế cho người dân để họ có thể tham gia – và hưởng lợi từ– các tiến trình phát triển.

Trên thực tế, sự kêu gọi tập trung trở lại vào vấn đề bền vững và bình đẳng cũng đã được thực hiện bởi các học giả khác, xuất phát từ thực tế là các nghiên cứu của họ cho thấy nghèo đói, bất bình đẳng và bền vững môi trường là những thách thức toàn cầu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Các nhà lãnh đạo thế giới cũng đồng tình với điều đó. Văn kiện Hội nghị Rio+20 đưa ra kết luận rằng phát triển bền vững là con đường phát triển duy nhất. Văn kiện này cũng nhấn mạnh công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế có liên hệ với nhau như thế nào, và đồng thời cũng nhấn mạnh – lần đầu tiên tại một hội nghị toàn cầu – khía cạnh xã hội – hay còn gọi là lấy con người làm trung tâm – của phát triển bền vững.
Báo cáoCon người vững mạnh, Hành tinh vững mạnhcủa Ủy ban Cấp cao về Bền vững Toàn cầu của Tổng Thư ký LHQ, được công bố trước thềm Hội nghị Rio+20, cho rằng “hầu hết những đơn vị hay cá nhân có vai trò đưa ra các quyết định về kinh tế vẫn cho rằng phát triển bền vững là một điều chẳng liên quan gì đến trách nhiệm chính của họ.” Tuy nhiên việc cân nhắc các khía cạnh môi trường và xã hội có thể là yếu tố sống còn đối với thành công của các quyết định kinh tế.
Khi chúng ta tiến đến gần năm 2050, thế giới càng ô nhiễm và bất bình đẳng thì Chính phủ các nước sẽ càng cần phải coi các hệ thống bảo vệ môi trường và bảo trợ xã hội không phải là thứ xa xỉ mà chúng ta chỉ có được khi các nước trở nên giàu có, mà là những điều cần thiết có tính sống còn để có thể duy trì sự phát triển và đáp ứng các nhu cầu của người dân. Cái giá của việc khắc phục vào thời điểm đó sẽ còn đắt hơn rất nhiều nếu chúng ta không hành động ngay từ lúc này. Đây là một thông điệp chính trong báo cáo của Nicholas Stern với Chính phủ Anh vào năm 2006 về yêu cầu hành động khẩn trương để ứng phó với biến đổi khí hậu.
Kết luận này ngày càng trở nên cấp thiết đối với các quốc gia đang phát triển với lực lượng dân số trẻ năng động, các dịch vụ phải kéo căng hết sức để đáp ứng nhu cầu người dân, các thành phố ngày một mở rộng, và nguy cơ thiên tai ngày một tăng. Các thách thức này đặc biệt nghiêm trọng đối với các quốc đảo nhỏ đang phải đối mặt với nguy cơ bị xóa sổ do mực nước biển dâng, và đối với các nước nghèo khác đang phải gánh chịu phần lớn hậu quả của các hiện tượng khí hậu cực đoan – ví dụ như các đợt hạn hán chết chóc xảy ra thường xuyên ở Châu Phi, hay lũ lụt gây tàn phá nghiêm trọng ở Pakistan và nhiều nơi khác.
Xin cho phép tôi được trình bày thêm một chút về mối liên hệ giữa bất bình đẳng và phát triển. Những tranh luận về bất bình đẳng thu nhập, đặc biệt là trong khuôn khổ các phong trào “nắm giữ” nhằm chống lại bất bình đẳng kinh tế và xã hội trên khắp thế giới, thường bị cho là có tính lý tưởng hóa và không phù hợp với các mục tiêu phát triển.
Tuy nhiên, trong cuốn sách xuất bản năm 2009 “Cấp độ tâm hồn: Tại sao sự bình đẳng lớn hơn khiến cho xã hội vững mạnh hơn”, Richard Wilkinson và Kate Pickett đã cho thấy rằng những xã hội bình đẳng hơn sẽ thực hiện được hầu hết mọi khía cạnh của an sinh tốt hơn, và những lợi ích này không chỉ tập trung trong tay người nghèo mà còn đến với tất cả mọi thành phần xã hội.
Một bài tiểu luận về “Bất bình đẳng thu nhập và nghèo đói kinh niên” trong một ấn phẩm gần đây của UNDP đã mô tả các cơ chế liên quan và khẳng định rằng: "Bất bình đẳng cao và gia tăng cũng làm giảm khả năng thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy tăng trưởng cho mọi đối tượng và phát triển con người. Ví dụ, các nhóm giàu hơn sẽ có thể được hưởng những ưu thế không đem lại hiệu quả kinh tế như thuế lũy thoái hoặc được phân bổ ngân sách nhà nước cho những lợi ích của riêng họ thay vì lợi ích của cả quốc gia."
Mối quan ngại này đã được nêu lên bởi những nhà chính sách hàng đầu, từ nhân vật từng đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz tới Robert Putnam, người đề xuất nguyên lý rằng những xã hội thiếu bình đẳng, nơi niềm tin và sự gắn kết xã hội kém, sẽ ít đầu tư vào cơ sở hạ tầng và các vật sở hữu công cộng hơn – ví dụ như bảo vệ môi trường, y tế, hay cải thiện hệ thống giáo dục. Tuy nhiên những sự đầu tư đó lại hết sức quan trọng đối với cuộc sống và an sinh của các thế hệ hiện tại và tương lai.
Khi chúng ta suy nghĩ về việc duy trì phát triển, chúng ta cần cân nhắc đến lượng dự trữ tư bản của chúng ta – cả về kinh tế, con người, xã hội và môi trường – và chúng ta sẽ để lại bao nhiêu trong số lượng dự trữ này cho các thế hệ con cháu của chúng ta. Bất bình đẳng gia tăng có thể gây những tác động tiêu cực đến tất cả những trữ lượng này.
Có những thời điểm các tác động nói trên rất dễ nhìn thấy – ví dụ như khi bất bình đẳng gia tăng dẫn tới bạo lực và xung đột vũ trang với những cái giá phải trả về con người, xã hội, kinh tế và môi trường, từ đó tác động đến toàn bộ con đường phát triển của cả xã hội. Có những lúc khác các tác động này lại khó nhìn thấy hơn, nhưng bất bình đẳng có thể dẫn tới tình trạng người giàu và người nghèo trong cùng một xã hội sống những cuộc sống quá khác biệt đến nỗi họ không thể hình dung ra được một tương laichung đáng để họ cùng nhau nỗ lực hướng tới, và vì vậy họ không thể tiến hành những bước đi để đạt đến tương lai đó.
Như nhà nghiên cứu đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz nhắc nhở chúng ta: “bất bình đẳng gia tăng là hệ quả đi kèm của một thứ khác: cơ hội bị thu hẹp.”

Chương trình phát triển toàn cầu hậu 2015 hiện đang được bàn thảo sẽ cần phải xem xét việc thúc đẩy bình đẳng và bền vững môi trường là các mục tiêu có liên hệ chặt chẽ với nhau. Điều này là cần thiết để có thể duy trì những thành tựu phát triển đã đạt được trong vòng 40 năm qua, và đảm bảo rằng các thế hệ tương lai sẽ không phải cực khổ hơn thế hệ ông bà, cha mẹ.

3. Những lựa chọn và can thiệp chính sách nào có thể đảm bảo một tương lai bình đẳng và bền vững hơn vào năm 2050?

Xin cho phép tôi trình bày một số cách tiếp cận mà chúng ta có thể thực hiện và đã thực hiện để giải quyết các vấn đề đói nghèo, bất bình đẳng và bền vững bằng cách: a) xây dựng sự đồng thuận về ‘tương lai chúng ta muốn có’ ở cấp độ toàn cầu; b) đưa ra những quyết định chính sách khôn ngoan ở cấp độ quốc gia; và, c) tìm kiếm các giải pháp đổi mới ở cấp độ địa phương.

a. Xây dựng sự đồng thuận ở cấp độ toàn cầu
Một thách thức mà các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt trong quá trình thúc đẩy phát triển bền vững là các vòng bầu cử và các áp lực chính trị liên quan khác khiến cho trọng tâm chú ý của các chính trị gia bị rút ngắn lại về mặt thời gian.

Điều đó có thể có nghĩa là những ưu tiên của thời đại sẽ được giải quyết một cách nhỏ giọt, và các nguy cơ dài hạn sẽ không được giải quyết đầy đủ. Đây chính là lĩnh vực mà LHQ, với vai trò xây dựng sự đồng thuận về các chuẩn tắc và các mục tiêu phát triển dài hạn của toàn cầu, có thể giúp vạch ra một hướng đi cho tương lai.

Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã thành công trong việc tập trung các nỗ lực phát triển và huy động nhiều nhân tố rộng rãi vì một mục tiêu chung qua một thời gian dài là 15 năm. Chính phủ những nước đạt được nhiều tiến bộ và duy trì được đất nước mình theo đúng định hướng để đạt được các mục tiêu đó thường xuyên được hoan nghênh và ghi nhận tại các hội nghị do LHQ tổ chức, và những quốc gia cần được cộng đồng quốc tế hỗ trợ cũng được xác định.

Rio+20 đã tái khẳng định yêu cầu đẩy mạnh tiến độ thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đến năm 2015 – một việc làm UNDP cam kết ủng hộ tuyệt đối, và cũng đã nhất trí xây dựng “các mục tiêu phát triển bền vững”.

Bên cạnh đó, Hội nghị cũng tập trung sự chú ý vào yêu cầu cấp thiết cần đảm bảo tiếp cận của tất cả mọi người với các dịch vụ năng lượng hiện đại và đáng tin cậy, đồng thời tránh phụ thuộc quá nhiều vào các nhiên liệu hóa thạch.

Các quốc gia thành viên đã ghi nhận sáng kiến “Năng lượng bền vững cho tất cả mọi người” của Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon, bao gồm 3 mục tiêu cho năm 2030:

  • Đảm bảo tiếp cận của tất cả mọi người với các dịch vụ năng lượng hiện đại;
  • Tăng gấp đôi sản lượng năng lượng tái tạo trong toàn bộ sản lượng năng lượng toàn cầu;
  • Tăng gấp đôi tỉ lệ tiết kiệm năng lượng trên toàn thế giới.

Trong số 500 tỉ đô la Mỹ được cam kết đầu tư một cách tự nguyện tại Hội nghị Rio+20, trên 60% là dành cho việc thực hiện sáng kiến này. Điều đó cho thấy các mục tiêu toàn cầu có thể khuyến khích hỗ trợ tài chính để bổ sung cho các cam kết chính trị cần thiết nhằm đem lại sự thay đổi.
Tổng Thư ký LHQ cũng nêu lên một thử thách đầy tham vọng là thực hiện xóa đói triệt để trong thời gian ông còn sống. Cụ thể, ông kêu gọi xây dựng một thế giới trong đó:

  • Tất cả mọi người được tiếp cận với thực phẩm đầy đủ dinh dưỡng trong suốt cả năm;
  • Không có tình trạng suy dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai và trẻ em;
  • Tất cả các hệ thống lương thực đều bền vững;
  • Nông dân sản xuất quy mô nhỏ có đầu vào và các cơ hội cần thiết để tăng gấp đôi năng suất và thu nhập; và
  • Tình trạng thất thoát lương thực do lãng phí, dự trữ kém và cơ sở vật chất yếu kém sẽ chấm dứt.

Các quyết định chính sách ở các cấp khác nhau có thể giúp đạt được các mục tiêu này. Ví dụ, đầu tư vào nông nghiệp bền vững có khả năng giúp làm giảm tình trạng mất an ninh lương thực và suy dinh dưỡng, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu, và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc cũng ước tính rằng những khoản đầu tư này có khả năng giúp tạo thêm 50 triệu việc làm đến năm 2050.

Xây dựng sự đồng thuận về một thế giới mà chúng ta muốn có vào năm 2030, 2040và 2050 là một bước đi cần thiết; sự phối hợp hài hòa giữa Chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ, xã hội dân sự, khu vực tư nhân, các nhà hảo tâm và các nhà nghiên cứu có thể giúp chúng ta tiến tới mục tiêu đó.

b. Hành động ở cấp độ quốc gia
Để có thể thành công, các quốc gia sẽ cần phải thực hiện hoạch định chính sách lồng ghép và theo đuổi các mục tiêu thuộc ba phân nhánh của phát triển bền vững – kinh tế, môi trường và xã hội – một cách đồng thời. Điều này đòi hỏi các hệ thống quản trị và hành chính công hiệu quả, cũng như sự đầu tư trên diện rộng cho tương lai của nhiều bên liên quan.

UNDP cam kết hỗ trợ các quốc gia xây dựng những năng lực và kế hoạch này để tiến tới những nền kinh tế xanh hơn, bao gồm nhiều đối tượng xã hội hơn, thực hiện được các ưu tiên phát triển của quốc gia trong khi hạn chế phát thải và đáp ứng nhu cầu của các nhóm, các cộng đồng nghèo, dễ bị tổn thương và bị gạt ra bên ngoài xã hội.

Trong báo cáo mới công bố gần đây, “Thắng lợi nhân ba cho phát triển bền vững”, qua các nghiên cứu trường hợp, chúng tôi đã chứng minh được các chính sách lồng ghép phối hợp đồng bộ với nhau như thế nào, đồng thời thách thức lối tư duy lạc hậu cho rằng tăng trưởng kinh tế là một phạm trù đối lập của bảo vệ môi trường.

Một số điển hình thành công bao gồm:

  • Chương trình Viện trợ Xanh (Bolsa Verde) của Brazil, tạo được sự chuyển giao thu nhập, đặc biệt hướng đến các gia đình nghèo đói cùng cực, qua đó thúc đẩy bảo vệ môi trường ở khu vực họ sinh sống và làm việc.
  • Chương trình Mạng lưới An toàn Hiệu quả của Ethiopia cho đến nay đã tạo được thu nhập và nguồn cung cấp thực phẩm ổn định cho trên 8 triệu đối tượng hưởng lợi ở 300 huyện nghèo không đảm bảo an ninh lương thực. Các đối tượng tham gia chương trình này góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên nước, đắp đất, qua đó xây dựng được khả năng chống chọi tốt hơn trước các hiện tượng khí hậu cực đoan trong tương lai.
  • Đạo luật Đảm bảo Việc Làm Nông thôn Quốc gia Mahatma Gandhi của Ấn Độ, đảm bảo tối thiểu 100 ngày công cho các đối tượng nghèo đáp ứng đủ điều kiện ở nông thôn, trong đó có định mức cho lao động phụ nữ, trong các dự án do hội đồng làng quyết định thực hiện với trọng tâm là khôi phục môi trường và dự trữ nước. Chương trình này hiện đem lại lợi ích cho trên 46 triệu hộ gia đình ở Ấn Độ.

Thông qua hợp tác Nam – Nam, các quốc gia đang phát triển có thể chia sẻ những bài học kinh nghiệm và giới thiệu các điển hình tốt. UNDP sẽ tiếp tục là một đối tác tin cậy trong việc thúc đẩy công tác này.

c. Đổi mới và quan hệ đối tác ở cấp địa phương

Hơn cả những gì mà cộng đồng quốc tế và chính phủ các nước có thể làm, tầm quan trọng và sự phù hợp của các hội nghị thượng đỉnh thế giới nằm ở khả năng kết nối và ảnh hưởng tới những điều người dân đang làm ở cấp cơ sở để “suy nghĩ về thế giới nhưng hành động ở địa phương”.

Hội nghị Rio+20, với sự tham gia đông đảo của chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ, các cộng đồng và doanh nghiệp, có thể được cho là một dịp để thúc đẩy sự lãnh đạo từ bên dưới vì phát triển bền vững, dựa trên những liên minh đa ngành có tính thực tiễn. Cuối cùng thì điều có thể tạo động lực hành động cho chính phủ các nước chính là việc họ nhận thấy đang có một làn sóng thay đổi.

Những sáng kiến đổi mới ở cấp địa phương, nếu được chứng minh là thành công, sẽ có thể được nhân rộng. Trong công việc của mình, tôi đã từng gặp nhiều ví dụ về những hành động đạt được sự thành công ở cộng đồng. Gần đây tại Senegal, tôi đã gặp những người phụ nữ địa phương đang trồng và bảo vệ rừng đước. Một khi họ tái tạo được những diện tích đước này, chúng sẽ tạo môi trường sinh trưởng thuận lợi cho cá và các loài thủy sản, từ đó tạo được nguồn thu nhập mới cho các hộ gia đình.

Vai trò quan trọng của các tổ chức từ thiện trong việc xây dựng các mối quan hệ đối tác cho tương lai cũng cần được nêu bật. Các hoạt động thiện nguyện táo bạo có thể giúp chúng ta có được những tư duy đổi mới và tìm ra giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề bền vững và bình đẳng cũng như các vấn đề khác, có thể do các cộng đồng địa phương thực hiện rồi nhân rộng thêm ra.

Kết luận

Trong bài trình bày tối nay, tôi đã phân tích các nhân tố khác nhau tạo nên sự thay đổi trên phạm vi toàn cầu – dân số, môi trường, kinh tế và địa lý chính trị, cũng như các lựa chọn chính sách cần được thực hiện để đảm bảo thế giới bình đẳng và bền vững hơn vào năm 2050.

Việc hiểu rõ các xu hướng và áp dụng các kỹ thuật mô hình hóa tinh vi có thể giúp chúng ta lập kế hoạch cho tương lai. Nhưng cuối cùng điều cần thiết chính là quyết tâm chính trị và sự lãnh đạo mạnh mẽ để có thể dành các nguồn lực con người và tài chính đầy đủ cho việc giải quyết các thách thức đã được xác định, tìm ra những giải pháp đổi mới, và xây dựng các mối quan hệ đối tác vững bền.

Tôi đã nêu bật những ví dụ thành công điển hình cho những hành động đó ở khắp mọi nơi trên thế giới.Được trò chuyện cùng quý vị ở khu vực Vịnh này – một trung tâm lớn của thế giới về sáng kiến công nghệ và doanh nghiệp xã hội, và cũng là một cộng đồng nổi tiếng về tôn trọng sự đa dạng của con người và bảo vệ môi trường, tôi lạc quan rằng thế giới có thể sẽ bình đẳng hơn và bền vững hơn vào năm 2050.

Tôi mong rằng tất cả các quý vị sẽ cùng tham gia thảo luận về khuôn khổ phát triển của thế giới hậu 2015, và chia sẻ những ý tưởng, sáng kiến và đóng góp của mình nhằm tạo dựng một “tương lai chúng ta muốn có”.