Công cuộc cải cách đã nâng cao cuộc sống của phụ nữ song khoảng cách và quan điểm dập khuôn về giới vẫn tồn tại

22 thg 10 2002

Hà Nội  - Theo một báo cáo mới của LHQ, thành tựu phát triển kinh tế và công cuộc đổi mới đã cải thiện cuộc sống của nhân dân Việt Nam, tuy nhiên nam giới được hưởng thụ nhiều hơn so với phụ nữ.

Báo cáo “Tóm tắt tình hình giới” của LHQ với nội dung thông tin vắn tắt về bình đẳng giới đã được công bố ngày hôm nay kết hợp với lễ phát động cuộc thi về bình đẳng giới và một hội nghị bàn tròn về vấn đề này. Các hoạt động này nằm trong khuôn khổ chiến dịch Thiên niên kỷ nhằm tăng cường hiểu biết về các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) ở Việt Nam.

Tám MDG mà các nhà lãnh đạo trên thế giới đã nhất trí thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của LHQ vào tháng 9 năm 2000 là cốt lõi trong các hoạt động của Hệ thống LHQ tại Việt Nam - để đảm bảo cho mọi trẻ em được cắp sách tới trường hay để nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ.

Báo cáo lập luận rằng ‘“giới” không có nghĩa là “phụ nữ”. Theo Báo cáo, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền con người và có c hội đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển của quốc gia trên các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá. Ông Jordan Ryan, Đại diện Thường trú UNDP, nói: “Thúc đẩy các quyền của phụ nữ và tăng cường khả năng tiếp cận của phụ nữ với các nguồn lực và cơ hội về giáo dục sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ nghèo đói và xây dựng xã hội công bằng”.

Điểm nhấn trọng tâm của Báo cáo là: Bình đẳng giới là yêu cầu bắt buộc để giúp Việt Nam đạt được những chỉ tiêu phát triển to lớn của mình. Cho dù thông qua Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội 10 năm, Chương trình Đầu tư công cộng hay Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo vừa được thông qua, thì các vấn đề giới vẫn cần được giải quyết một cách trực diện như là một vấn đề phát triển chính.

Báo cáo ghi lại phát hiện mới đây về những kết quả đạt được đối với cả phụ nữ và nam giới trên các mặt như tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học, y tế và xoá đói giảm nghèo. Theo Báo cáo, kết quả thực hiện mục tiêu bình đẳng giới của Việt Nam có mặt được và có mặt chưa được.

Việt Nam đã đạt kết quả tốt về nhiều chỉ số bình đẳng giới. Ví dụ, những chỉ số về sức khoẻ trẻ em không thể hiện sự phân biệt đối với trẻ sơ sinh là gái. Tỷ lệ trẻ em trai và trẻ em gái thuộc dân tộc đa số, dân tộc Kinh, ở các trường tiểu học gần như là ngang nhau. Hiện nay có 138 đại biểu Quốc hội là nữ, chiếm 27,4% tổng số đại biểu, và như vậy Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội cao nhất ở Châu á. Tổng dân số Việt Nam hiện nay là 80 triệu người, trong đó 49,2% là nam và 50,8% là nữ.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và công cuộc cải cách vừa qua chưa rút ngắn được khoảng cách giữa nam giới và phụ nữ. Mặc dù những công việc được coi là nhiệm vụ của phụ nữ trong cuộc sống hàng ngày đã thay đổi rất nhiều trong những năm gần đây, song những giá trị và quan niệm mang tính dập khuôn về giới ở Việt Nam thay đổi rất ít so với những thập kỷ hay những thế kỷ trước đây. Những thế hệ phụ nữ trẻ ở Việt Nam đang phải đối mặt với những áp lực mới trước yêu cầu phải đảm nhiệm đồng thời nhiều vai trò như người mẹ, người vợ, người lao động và người lãnh đạo.

Gánh nặng công việc là một yếu tố cản trở phụ nữ tham dự vào các cuộc bàn bạc tập thể (ví dụ họp làng xã) và các tổ chức ra quyết định. Theo báo cáo, phụ nữ nông thôn ở Việt Nam thường làm việc từ 16 đến 18 tiếng mỗi ngày - như vậy trung bình cao hơn khoảng từ 6 đến 8 tiếng so với nam giới. Nhiều phụ nữ phải đảm đương hai nhiệm vụ cùng một lúc vì họ không chỉ lao động kiếm sống mà còn phải hoàn thành vai trò truyền thống là người mẹ và người vợ trong gia đình.

Ông Ryan nói: ‘’Cần có sự thay đổi tháI độ và cách nhìn về nam và nữ giới để đảm bảo công việc gia đình cũng như việc làm trên thị trường lao động được phân công công bằng hơn”.

Báo cáo cũng phản ánh những sự bất bình đẳng hiện còn tồn tại về mức lương và khối lượng công việc giữa nam giới và phụ nữ. Báo cáo cho biết chỉ có 23% phụ nữ có khả năng hoạt động kinh tế làm các công việc được trả lương, trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 41%, và mức thù lao trung bình theo giờ công lao động của phụ nữ chỉ bằng 78% mức thù lao của nam giới.

Một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo và tăng thu nhập thông qua tăng năng suất lao động là vấn đề giáo dục. Vào năm 1999, có 5,3 triệu người mù chữ với khoảng 69% trong số này là nữ. Tỷ lệ phụ nữ biết chữ đã tăng lên trong thập kỷ qua, song vẫn còn mức chênh lệch khoảng 12% giữa nam và nữ ở độ tuổi từ 40 trở lên. Tình trạng trẻ em gái bỏ học có xu thế diễn ra thường xuyên hơn so với trẻ em trai. Báo cáo cho rằng hiện tượng này có thể xuất phát từ việc các gia đình có tư tưởng coi trọng con trai hơn vì đứa con trai được coi là có triển vọng nghề nghiệp tốt hơn so với đứa con gái có cùng trình độ học vấn.

Báo cáo trình bày chi tiết về nguy cơ bạo lực đối với phụ nữ gia tăng trong thời gian qua như các hành vi bạo lực trong gia đình và buôn bán phụ nữ. Việt Nam đã phê chuẩn hầu hết các công ước quốc tế liên quan tới việc xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ và triển khai mọi biện pháp nhằm trấn áp mọi hình thức buôn bán phụ nữ, song tình trạng bạo hành giới vẫn còn phổ biến ở tất cả các vùng nông thôn cũng như thành thị và trong các gia đình với mọi mức thu nhập ở Việt Nam.

Tuy phụ nữ đã được bình đẳng với nam giới về tất cả các quyền sử dụng đất đai và sở hữu tài sản như được quy định rõ trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình, song theo quan niệm truyền thống, phụ nữ vẫn được coi là phụ thuộc vào gia đình họ hay gia đình bên chồng với việc họ tiếp cận với đất đai thông qua người cha, người chồng hay anh em trai. Hầu hết phụ nữ ở các vùng nông thôn không hiểu biết về những văn bản pháp luật trên và thường tuân theo các tập quán truyền thống.

Do đất đai được phân theo độ tuổi lao động, nên phụ nữ trong độ tuổi từ 55 đến 60 được cấp tỷ lệ đất đai chỉ bằng một nửa so với nam giới cùng tuổi, vì tuổi nghỉ hưu của phụ nữ là 55 và của nam giới là 60. Khả năng tiếp cận hạn chế với đất nông nghiệp làm giảm tính đa dạng của các hoạt động kinh tế trong nông nghiệp, gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến tình hình an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp.

Báo cáo còn mô tả chi tiết về các tổ chức quốc tế có các hoạt động về bình đẳng giới và các vấn đề phụ nữ ở Việt Nam. Hy vọng rằng các kết quả phân tích được trình bày trong toàn bộ Báo cáo sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn khái niệm bình đẳng giới và tầm quan trọng của nó trong công cuộc xoá đói giảm nghèo để đạt được các mục tiêu phát triển quốc gia.

Để biết thêm thông tin, xin mời liên hệ:

Phòng Truyền thông UNDP, ĐT: 942 1495; Fax: 942 2267

Liên hệ UNDP tại Việt Nam (dành cho báo chí)
Nguyễn Việt Lan, Cán bộ Truyền thông 84 4 3822 4383 ext.121
nguyen.viet.lan@undp.org
Phan Huong Giang, Cán bộ Truyền thông 84 4 3822 4383 ext.119
phan.huong.giang@undp.org
Ðồng hành cùng chúng tôi