Phát biểu tại buổi công bố Báo cáo đánh giá toàn cầu về giảm rủi ro thiên tai

19 thg 7 2011

Diễn giả: Barnaby Jones, Phó Giám đốc, UNDP 
Ngày:     Thứ ba, ngày 19 tháng 7 năm 2011
Sự kiện: Công bố Báo cáo đánh giá toàn cầu về giảm rủi ro thiên tai

Kính thưa Thứ trưởng Đào Xuân Học;
Kính thưa ngài Andrew Maskrey, Điều phối viên – Trưởng nhóm Tác giả Báo cáo Đánh giá toàn cầu về Giảm rủi ro thiên tai 2011;
Thưa các đồng nghiệp đến từ cộng đồng các nhà tài trợ và các tổ chức quốc tế;
Thưa quý ông quý bà,

Trước hết cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến chính phủ Việt Nam, đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đã cho chúng tôi cơ hội phát biểu trong buổi công bố báo cáo quan trọng này. Tôi cũng xin chúc mừng Ban thư ký Liên hợp quốc về Chiến lược giảm rủi ro thiên tai (UNISDR) đã kịp thời đưa ra cáo lần thứ hai này - “Báo cáo toàn cầu về giảm rủi ro thiên tai”.    

Báo cáo này nhắc lại cho chúng ta rằng bất kỳ quốc gia nào, dù phát triển hay đang phát triển, cũng ít nhiều có nguy cơ bị ảnh hưởng và tổn thất bởi thiên tai. Thiên tai đã liên tục lấy đi hàng triệu sinh mạng và sinh kế của người dân trên thế giới. Gần đây, chúng ta đã chứng kiến một loạt các thảm họa lớn như động đất ở Nhật Bản và New Zealand, hay các đợt lũ lụt lịch sử ở Pakistan. Mỗi năm, có hàng trăm các trận thiên thai, thảm họa nhỏ hơn xảy ra trên thế giới. Rất nhiều loại thiên tai này lien quan đến các biến cố về khí hậu, gây ra nhiều tổn thất cho các quốc gia đang phát triển và gây ra nhiều thiệt hại đến các cộng đồng dễ bị tổn thương, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. 

Báo cáo toàn cầu cũng đưa ra những tín hiệu lạc quan. Báo cáo năm nay nhấn mạnh rằng việc đầu tư vào cảnh báo sớm và phòng ngừa thiên tai có thể đem lại những khác biệt tích cực và giúp bảo vệ tính mạng con người. Rất nhiều quốc gia đã có những tiến bộ rõ rệt trong công tác này. Báo cáo cho thấy rủi ro về người trên toàn cầu do các hiểm họa lớn liên quan đến khí hậu có xu hướng giảm đi, và so với 20 năm trước, nguy cơ thiệt hại về người do bão nhiệt đới hay lũ đã thấp hơn nhiều.

Mặc dù đã có những bước tiến rõ rệt, báo cáo này cũng chỉ ra một số thách thức đòi hỏi các quốc gia cần phải tập trung nỗ lực giải quyết trong thời gian tới. Tôi xin được nhấn mạnh một số phát hiện trong báo cáo này mà tôi thấy rất tương đồng với bối cảnh của Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, báo cáo chỉ ra rằng tổn thất về kinh tế và thiệt hại về nhà cửa, trường học, cơ sở y tế và sinh kế đang có chiều hướng gia tăng. Ước tính rủi ro thiệt hại về kinh tế do lũ bão có xu hướng tiếp tục gia tăng ở tất cả các khu vực trên thế giới. Ước tính, tỉ trọng GDP toàn cầu có nguy cơ bị ảnh hưởng do bão đã tăng lên ba lần trong giai đoạn từ năm 1970 đến 2010, lên mức US$1.9 tỷ đô la. Thiên tai xảy ra ngày càng thường xuyên dù có thể không gây tổn thất lớn về người, nhưng gây ra những thiệt hại lớn về cơ sở hạ tầng và làm cho các hộ dân với thu nhập thấp mất đi nguồn sinh kế.

Thứ hai, thiên tai đã tác động vô cùng nghiêm trọng và tiêu cực đến điều kiện phúc lợi của trẻ em và khiến nhiều người dân phải tái định cư tại chỗ. Trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương, đặc biệt là các trẻ em gái. Các số liệu phân tích từ báo cáo này cho thấy, sau các đợt thiên tai lớn, khoảng cách giới tiếp tục bị mở rộng trong giáo dục tiểu học, và điều này đòi hỏi các bên liên quan cần quan tâm nhiều hơn đến điều kiện dễ bị tổn thương và nhu cầu của trẻ em. 

Cuối cùng, hiểu biết và nhận định về các nguy cơ thiệt hại do hạn hán gây ra còn nhiều hạn chế. Hạn hán gây nhiều tác động lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh kế nông thôn và các ngành kinh tế khác. Số liệu phân tích cho thấy người dân nghèo ở khu vực nông thôn cảm nhận được ít nhiều những tác động về kinh tế xã hội mà hạn hán gây ra, tùy vào mức độ phụ thuộc của ngành sản xuất nông nghiệp với công tác sản xuất tưới tiêu theo mưa. Đặc biệt là tại Việt Nam, hạn hán đã và đang gây ra những thiệt hai đáng kể; lấy ví dụ như trong năm 2005, ước tính thiệt hại do hạn hạn gây ra tại Việt Nam lên đến 110 triệu đô la mỹ.

Trong suốt giai đoạn từ năm 1990 đến 2009, trung bình mỗi năm Việt Nam có 457 người bị thiệt mạng do thiên tai. Ước tính tổn thất về kinh tế hàng năm tương ứng với 1.3% tổng sản phẩm quốc dân (GDP -  theo định giá quy đổi), tương ứng với 3.6 tỷ đô la mỹ vào thời điểm năm 2010. Biến đổi khí hậu và sự suy giảm hệ sinh thái cũng làm gia tăng nguy cơ bị ảnh hưởng và tình trạng tổn thương của người dân và cộng đồng đối với nhiều dạng hiểm họa mới cũng như các rủi ro thiên tai mà nó gây ra.

Chính phủ Việt nam đã nhận định được các rủi ro thiên tai mà Việt Nam đang gặp phải, đồng thời đã có một loạt các hành động cần thiết để giải quyết những rủi ro này. Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão trung ương, từ khi được thành lập vào năm 1946 đến nay, đã ban hành một loạt các chính sách và chương trình quan trọng để ứng phó với thiên tai, thảm họa. Chính phủ đặc biệt đang tập trung vào công tác quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. Dù vậy, theo đà tăng trưởng và phát triển, Việt Nam sẽ tiếp tục phải đổi mặt với nhiều thách thức mới trong thời gian tới. Tôi xin phép được nêu ra ba thách thức chính sau  đây:

Một là, Việt Nam cần đưa ra một hệ thống khuôn khổ pháp lý toàn diện hơn, đồng thời cần củng cố hơn nữa năng lực thể chế về quản lý rủi ro thiên tai để không những giải quyết những dạng thiên tai thảm họa do thiên nhiên gây ra nói chung mà còn giải quyết những rủi ro tiềm ẩn khác. Tới đây, luật mới về quản lý rủi ro thiên tai cần xác định rõ vai trò và trách nhiệm của chính phủ và đảm bảo rằng mọi người dân đều có thể tiếp cận được đến các thông tin về rủi ro thiên tai.

Thứ hai là, cần nhìn nhận rằng những thành quả về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của Việt Nam hiện nay đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu và thiên tai. Mức độ và phạm vi ảnh hưởng này là rất đáng kể và cần phải được cân nhắc tính toán đầy đủ trong quá trình thực hiện Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội năm năm tới, cũng như các kế hoạch phát triển của các ngành và của các tỉnh.

Thứ ba là, chính phủ rất cần tăng ngân sách đầu tư cho công tác quản lý rủi ro thiên tai cũng như cần thiết lập các cơ chế bảo đảm tài chính cho các rủi ro thiên tai một cách linh hoạt. Mặt khác chính phủ cũng cần bảo đảm có một cơ chế tài chính dự phòng và cơ chế bảo hiểm cần thiết để bù đắp các thiệt hại về tài sản công cũng như hỗ trợ phục hồi cho các hộ dân và cộng đồng có thu nhập thấp sau mỗi đợt thiên tai xảy ra. Để các khoản đầu tư công được đầu tư hiệu quả, bền vững và phù hợp với nhu cầu của địa phương, chính phủ cũng cần tăng cường hợp tác hơn nữa với các tổ chức xã hội dân sự và các chính quyền cơ sở. Việc chính phủ Việt Nam hiện nay đang thúc đẩy Chương trình quốc gia về Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là một bước tiến quan trọng theo xu hướng phát triển này.

Thay cho lời kết thúc, tôi xin phép được nhấn mạnh rằng Liên Hiệp quốc tại Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc nói riêng cam kết sẽ tiếp tục cùng hợp tác với Chính phủ Việt Nam, cộng đồng các nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan liên quan để giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Việt Nam – hướng tới việc đảm bảo một tương lai an toàn, ổn định, bền vững và công bằng cho mọi người dân Việt Nam.

Tôi xin khuyến khích tất cả các quý vị tham gia buổi công bố báo cáo ngày hôm nay hãy cũng nhau nhìn nhận và đóng góp chia sẻ ý kiến về các phát hiện của Báo cáo đánh giá toàn cầu về Giảm rủi ro thiên tai năm 2011, đồng thời chia sẻ nhận xét của quý vị về sự phù hợp và ý nghĩa của các phát hiện này đối với người dân Việt Nam.

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị!