Bài phát biểu tại buổi giới thiệu Báo cáo phát triển con người của Việt Nam năm 2011

09 thg 11 2011

Diễn giả:     Bà Setsuko Yamazaki, Giám đốc UNDP tại Việt Nam
Ngày:         Thứ tư, ngày 9 tháng 11 năm 2011
Sự kiện:     Giới thiệu Báo cáo quốc gia về Phát triển con người
Địa điểm:    Khách sạn Hòa Bình

Kính thưa Giáo sư Nguyễn Xuân Thắng,
Thưa các bạn đến từ các cơ quan thông tin đại chúng,
Thưa các đồng nghiệp từ các tổ chức LHQ

Tôi thực sự vui mừng được có mặt ở đây ngày hôm nay cùng với các quý vị và các bạn để công bố Báo cáo Phát triển con người của Việt Nam năm 2011 với tựa đề Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người. Báo cáo này nghiên cứu những tiến bộ về phát triển con người ở tất cả các tỉnh của Việt Nam cũng như tầm quan trọng của các dịch vụ y tế và giáo dục chất lượng tốt.

Mới chỉ tuần trước, tại Đan Mạch, Helen Clark, người đứng đầu UNDP, đã công bố Báo cáo Phát triển con người toàn cầu năm 2011. Những phát hiện và khuyến nghị trong báo cáo toàn cầu này hoàn toàn phù hợp với những gì chúng ta sẽ thảo luận ngày hôm nay. Vì vậy, trước khi nhường lời cho bà Ingrid để trình bày những phát hiện chính của Báo cáo quốc gia về Phát triển con người, tôi muốn được nêu một số điểm chính từ báo cáo toàn cầu này.

Báo cáo Phát triển con người toàn cầu đầu tiên được đưa ra vào năm 1990. Báo cáo này đã kêu gọi một sự thay đổi cách thức đo lường tiến bộ phát triển và lập luận rằng con người cần được xem là trung tâm. Báo cáo cũng định nghĩa rằng phát triển con người là một quá trình mở rộng quyền tự do, sự lựa chọn và khả năng của người dân, đồng thời báo cáo đã xây dựng Chỉ số phát triển con người (HDI).

HDI đo lường ba phương diện cơ bản của phát triển con người - một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được tiếp cận với giáo dục và kiến thức, và điều kiện sống đầy đủ. Chỉ số này là một thước đo thành quả phát triển thay thế cho những công cụ đánh giá tiến bộ mang tính kinh tế thuần túy như Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Như tôi đã nói, phương pháp này lấy con người làm trung tâm khi đo lường mức độ phát triển.

Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm nay cho thấy giá trị HDI của Việt Nam năm 2011 là tương tự như năm ngoái. Việt Nam đứng trong nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình và xếp thứ 128 trong 187 nước được khảo sát.

Trong hai mươi năm qua, giá trị HDI của Việt Nam đã tăng thêm 37%. Những tiến bộ mà Việt Nam đã đạt được trong từng chỉ số thành phần của HDI (tuổi thọ, giáo dục và tăng trưởng kinh tế) cho thấy tiến bộ chung về phát triển con người chủ yếu là do tăng trưởng kinh tế. Từ năm 1990 đến năm 2011, thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam đã tăng đáng kinh ngạc với mức 228%. Do đó, chính tăng trưởng thu nhập đã góp phần lớn nhất cho tiến bộ đạt được về Chỉ số phát triển con người.
Mặt khác, những tiến bộ về phát triển xã hội, bao gồm cả y tế và giáo dục, diễn ra chậm hơn và đóng góp ít hơn cho HDI của Việt Nam. So với các nước có mức phát triển con người trung bình khác, HDI năm 2011 của Việt Nam ở dưới mức trung bình, đồng thời cũng ở dưới mức trung bình của các nước Đông Á và Thái Bình Dương.

Tất nhiên, HDI là một thước đo trung bình của các thành tựu cơ bản về phát triển con người. Giống như tất cả các con số trung bình, HDI che dấu sự bất bình đẳng trong phân phối thành tựu phát triển con người trên toàn bộ dân số. Để giải quyết vấn đề này, Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm ngoái đã đưa ra chỉ số HDI điều chỉnh theo bất bình đẳng, trong đó tính đến bất bình đẳng trên cả ba phương diện của HDI.

Như vậy, HDI có thể được coi là chỉ số đo mức độ phát triển con người “tiềm năng”, còn HDI điều chỉnh theo bất bình đẳng thì là chỉ số đo mức độ phát triển con người thực tế. Khi HDI của Việt Nam được điều chỉnh theo bất bình đẳng, chỉ số này giảm đi 14%. Nói cách khác, do bất bình đẳng mà Việt Nam đã không thể hiện thực hóa toàn bộ tiềm năng phát triển con người của mình. Báo cáo quốc gia về Phát triển con người tiếp tục tìm hiểu sự phân phối không đồng đều trên các phương diện giáo dục, y tế và thu nhập – xảy ra ở đâu và như thế nào tại Việt Nam.

Giống như ở nhiều nước thu nhập trung bình khác, bất bình đẳng đang bắt đầu tăng lên ở Việt Nam.

Ngoài ba phương diện của phát triển con người mà tôi vừa đề cập, môi trường suy thoái, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thách thức biến đổi khí hậu đều đang đe dọa những tiến bộ và thành quả phát triển mà Việt Nam đã đạt được trong những năm qua. Chỉ số HDI của Việt Nam sẽ còn giảm đi nữa nếu như chỉ số này được điều chỉnh theo mức độ bền vững về môi trường và tăng trưởng xanh.

Kính thưa các quí vị và các bạn,

Như quý vị đã thấy từ bức tranh toàn cầu tôi vừa trình bày, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ không ngừng về phát triển con người ở cấp quốc gia. Nhưng tình hình ở các địa phương thì sao? Kết quả đạt được về phát triển con người ở các tỉnh và các vùng như thế nào? Những lĩnh vực chính mà Việt Nam cần tập trung để đạt được tăng trưởng chất lượng và bền vững cũng như tiếp tục đi lên nấc thang cao hơn về phát triển con người là gì? Tất cả những câu hỏi này sẽ được giải đáp trong Báo cáo quốc gia về Phát triển con người năm 2011.

Báo cáo quốc gia đã khẳng định phát hiện của báo cáo toàn cầu rằng chính tăng trưởng kinh tế là yếu tố chủ yếu thúc đẩy tiến bộ về phát triển con người ở Việt Nam. Báo cáo cũng phát hiện ra rằng tiến bộ đạt được ở cấp quốc gia che dấu những chênh lệch lớn ở cấp địa phương. Cùng với tình trạng kinh tế và nguồn gốc dân tộc, sự khác biệt về địa lý và khu vực cũng là những yếu tố quan trọng nhất gây nên bất bình đẳng ở Việt Nam. Tất cả các yếu tố này đang cản trở Việt Nam tiến lên mức phát triển con người cao hơn.
 
Báo cáo cũng tìm hiểu mối liên hệ giữa phát triển con người và cung cấp dịch vụ xã hội, trong đó tập trung vào các dịch vụ y tế và giáo dục. Ở hai lĩnh vực này, báo cáo cũng phát hiện nhiều bất bình đẳng vẫn đang tồn tại dai dẳng.
 
Báo cáo quốc gia về Phát triển con người năm nay cũng đưa ra hai khái niệm mới.

Thứ nhất, dựa trên những nghiên cứu và dữ liệu của Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội và Liên hợp quốc, báo cáo đưa ra Chỉ số đói nghèo đa chiều (MPI). Đây là lần đầu tiên một chỉ số như vậy ở cấp quốc gia, bao hàm toàn bộ dân số, được sử dụng ở Việt Nam.

Thứ hai, báo cáo tìm hiểu mối tương quan giữa quản trị và mức phát triển con người. Đây là một điểm mới quan trọng và cần được nghiên cứu thêm trong các báo cáo sau này.

Tất cả các nội dung này sẽ được bà Ingrid giải thích thêm ngay sau đây.

Một lần nữa, tôi xin được nhấn mạnh tầm quan trọng của các vấn đề mà chúng ta thảo luận hôm nay. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hiện đang được Quốc hội thảo luận. Tôi hy vọng rằng Báo cáo phát triển con người này có thể cung cấp dữ liệu cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng kế hoạch phát triển tiếp theo và đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn cho các dịch vụ xã hội, ở cả cấp quốc gia và địa phương, nhằm hiện thực hóa tiềm năng phát triển con người của Việt Nam.

Báo cáo quốc gia về Phát triển con người năm nay là kết quả của sự cộng tác, đóng góp và hỗ trợ lớn lao của nhiều người. Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Xuân Thắng và các cán bộ của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam về những tư vấn chiến lược và hỗ trợ mạnh mẽ trong suốt quá trình nghiên cứu và dự thảo báo cáo này.

Sau đây, tôi xin được nhường lời cho bà Ingrid Fitzgerald, tác giả chính của Báo cáo quốc gia về Phát triển con người năm 2011. Bà Ingrid sẽ trình bày các kết quả chính của báo cáo. Sau đó, các quý vị và các bạn sẽ nêu câu hỏi và chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thêm về các kết quả và khuyến nghị của báo cáo.

Xin kính chúc các quý vị đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Xin cảm ơn.