Bài phát biểu tại Chương trình Lãnh đạo Quản lí Cấp cao Việt Nam lần thứ 5

26 thg 8 2013

image

Diễn giả: Bà Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc Việt Nam
Ngày:      26 tháng Tám năm 2013
Sự kiện:  Chương trình Lãnh đạo Quản lí Cấp cao Việt Nam (VELP)

Kính thưa Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vàCác quí vị đại biểu,
Kính thưa đại diện của Trường công Harvard Kennedy,

Thưa quý vị:

Hôm nay tôi rất vui được cùng với quí vị tham gia Chương trình Lãnh đạo Quản lí Cấp cao Việt Nam lần thứ 5.Trong 6 năm qua UNDP đã hỗ trợ chương trình này thông qua sự hợp tác của chúng tôi với Bộ Ngoại giao. Là một tổ chức phát triển toàn cầu trung lập của Liên Hiệp Quốc, UNDP trên toàn thế giới luôn nỗ lực kết nối các quốc gia và các nhà lãnh đạo với thực tiễn và cách phát triển quốc tế tối ưu qua những nỗ lực hoạt động như VELP.
VELP năm nay tập trung vào nội dung đổi mới thể chế và các yếu tố khác để tiếp tục tăng trưởng, ổn định và thịnh vượng. Cùng với việc cải cách cơ cấu và biện pháp bình ổn, một lần nữa Việt Nam có thể tạo lập con đường phát triển công bằng và bền vững hơn.

Trong những năm qua Việt Nam đã xây dựng một nền tảng vững chắc để tiếp tục phát triển và tiến bộ như Báo cáo Phát triển con người năm 2013 đã chỉ ra. Bản báo cáo đã cho thấy Việt Nam là một trong 40 nước có mức phát triển đạt được từ năm 1990 đến năm 2012 vượt mức so với dự đoán, cả về mức thu nhập và phi thu nhập được tính đến trong chỉ số phát triển con người.

Theo kết quả của đợt khảo sát quốc gia về Quản lí và Hiệu suất Hành chính công, PAPI, năm 2012 của Việt Nam, người dân Việt Nam còn khá lạc quan về triển vọng tương lai của mình, trong đó 80% trong số gần 14.000 người được phỏng vấn coi triển vọng tương lai kinh tế của họ là 'vẫn như thế "hay" tốt hơn ", thể hiện sức mạnh và khả năng phục hồi tốt của người dân Việt Nam.

Tuy nhiên, một số dấu hiệu gần đây cho thấy hoạt động kinh tế và tốc độ tăng trưởng đang chậm lại. Niềm tin nhà đầu tư vẫn còn cần được khôi phục khi mà năng lực sản xuất đang chững lại giảm từ 5 phần trăm mỗi năm trong giai đoạn 2000 và 2007 và -3,5 phần trăm từ năm 2008 đến năm 2011. Theo  Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu 2012-13của Diễn đàn Kinh tế Thế giớiViệt Nam đã giảm 10 bậc xuống vị trí thứ 75, và giảm từ vị trí 116 trong năm 2010 xuống 123 vào năm 2012 như đã nếu trong Chỉ số Nhận thức Tham nhũng  của tổ chức Minh bạch Quốc tế. Xóa đói giảm nghèo và tiến trình phát triển của con người do đó cũng bị chậm lại.

Một số quốc gia ở Đông Nam Á, bao gồm Thái Lan, Indonesia, và Philippines đã phải gánh chịu nhiều vấn đề về kinh tế và xã hội khi dính vào cái bẫy thu nhập trung bình. Tăng trưởng không chỉ là về các chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn và ưu đãi. Nếu không có một khuôn khổ về thể chế để tiếp tục thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và hoạt động kinh tế mới có giá trị gia tăng cao hơn, bao gồm việc được tiếp cận một cách bình đẳng đến các dịch vụ y tếchất lượng,đếncác hệ thống giáo dục và đào tạo nghề - các nền kinh tế đó sẽ trì trệ.

Khả năng đật được những thành tựu đáng kể trong xóa đói giảm nghèo và chuyển sang một quỹ đạo tăng trưởng bền vững cao hơn của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào ba yếu tố: tốc độ cải cách, giải pháp kỹ thuật đúng đắn và khả năng của các cơ quan đoàn thể trong việc đáp ứng với bối cảnh toàn cầu mới và các nguyện vọng của người dân đang tăng lên.

Cho đến gần đây, Việt Nam vẫn thể hiện là một quốc gia có mức tăng trưởng tốt mà không có sự gia tăng đáng kể về bất bình đẳng. Hệ số Gini đã tăng 0,39-0,42 - tương đương với mức tăng khoảng 5 phần trăm từ năm 2004 đến năm 2010. Điều này khá cao so với Thái Lan và Indonesia, nhưng thấp hơn so với Trung Quốc và Philippines, và cao hơn so với Campuchia, Lào và Ấn Độ. Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy tăng trưởng thu nhập đã cao hơn ở phía đầu cuối của phân phối thu nhập.

Một nghiên cứu gần đây cho thấy nhận thức về sự bất bình đẳng đã tăng đáng kể ở Việt Nam trong năm năm qua. Bất bình đẳng trong việc thể hiện ý kiến, quyền lực và mối quan hệ được coi là rào cản đối với việc  tiếp cận công việc, dịch vụ công hoặc duy trì quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, hầu hết người trả lời cho rằng thành công trong việc tạo ra thu nhập và sự giàu có là chấp nhận được miễn là nó được tạo ra thông qua các phương tiện công bằng và hợp pháp. Ở đây cho phép tôi nói thêm việc trongnhững cuộc tham vấn quốc gia đã tiến hành trong thời gian gần đây chương trình phát triển tại Việt Nam sau năm 2015, bình đẳng và được đối xử bình đẳng được coi là khát vọng số một của tất cả các nhóm tham khảo ý kiến.

Bất bình đẳng không chỉ là vấn đề của những người có cuộc sống bị ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất. Việc kiềm hãm hay hạn chế năng lực sản xuất của người dân không chỉ là một mất mát lớn cho xã hội mà còn làm giảm đáng kể tính bền vững của tăng trưởng quốc gia.

Với một nền kinh tế có tốc độc hiện đại hóa, công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng như Việt Nam, đòi hỏi phải có cách thức mới để quản lý, nhưng việc phá bỏ những cách làm quen thuộc thường không phải là dễ dàng và có thể gây ra nhiều tình huống khó xử làm cho việclựa chọn trở nên khó khăn hơn.

Ví dụ, mặc dù đã được thừa nhận rộng rãi rằng doanh nghiệp nhà nước, đã từng là động cơ chính tăng trưởng tại Việt Nam, đang ngày càng không hiệu quả và cản trở việc giải phóng tiềm năng khu vực tư nhân, thì tốc độ cải cách vẫn còn rất chậm.

Một vấn đề khó xử khác là làm sao để đảm bảo đất đai được sử dụng có hiệu quả và công bằng để duy trì tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh cũng như xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực, hòa hợp xã hội và môi trường bền vững.

Khiếu kiện đất đai đã trở thành một vấn đề bức xúc. Theo số liệu thống kê chính thức của Toà án nhân dân tối cao, khoảng 70 phần trăm của tất cả các khiếu nại có liên quan đến việc bồi thường đất đaivà tái định cư.

Một vấn đề khó khăn khác là làm thế nào để tìm thấy sự cân bằng giữa việc giảm gánh nặng tài chính của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công và đồng thời mở rộng phạm vi toàn cầu. Ví dụ, qua trình xã hội hóa đã giúp trong việc mở rộng độ bao phủ của dịch vụ, nhưng có những bằng chứng cho thấy việc tiếp cận giáo dục chất lượng và dịch vụ y tế ngày càng trở nên phụ thuộc vào khả năng chi trả của các hộ gia đình. Trong khi một vai trò lớn hơn cho khu vực tư nhân trong cung cấp dịch vụ là quan trọng, trách nhiệm và cơ chế quản lý mạnh mẽ sẽ cần phải đảm bảo việc tiếp cận công bằng cho tất cả mọi đối tượng, đặc biệt là người nghèo và dễ bị tổn thương.

Một mối quan tâm chính nữa là việc làm thế nào để nâng cao hiệu quả của các cơ quan thuôc khu vực hành chính công. Mặc dù có một số sáng kiến rất tích cực như cơ chế 'một cửa', và xây dựng cơ quan công quyền đủ thẩm quyền phục vụ công–nhưng quan liêu vẫn còn là một thách thức lớn. Một số cuộc khảo sát, trong đó có chỉ số PAPI, cũng cho thấy người dân phải trả nhiều khoản “không chính thức” để có thể tiếp cận các dịch vụ công cộng và những khoản này lại cao hơn đáng kể so với chi phí thực tế của dịch vụ. Các khoản trả“không chính thức” này tạo ra một sân chơi thiếu công bằng cho các doanh nghiệp như chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đã cho thấy và đến nay đã để lại một số hậu quả đối với tăng trưởng kinh tế chung và sự ổn địnhcủa đất nước.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khi sự giàu có và qui mô của tầng lớp trung lưu tăng lên thì mong muốn của họ có quyền được tham gia và mong muốn có một khu vực nhà nước có trách nhiệm hơn và đáp ứng tốt hơn cũng tăng lên.

Trong 2 năm qua, tại Việt Nam các tổ chức xã hội dân sự đã tích cực tham gia trong một số sáng kiến lập pháp quan trọng, trong đó có dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Trong các buổi tham vấn quốc gia về chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015, xã hội dân sự cho thấy sự tích cực tham gia xây dựng và giám sát chính sách.

Tôi hy vọng rằng năm ngày tiếp theo sẽ là một cơ hội để chúng ta cùng xem xét học hỏi kinh nghiệm quốc tế và thảo luận về đổi mới thể chế để đối phó thành công với những thách thức và tình huống khó xử của một quốc gia có thu nhập trung bình, phấn đấu cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển con ngườicao hơn.

Trước khi kết thúc bài phát biểu, cho phép tôi một lần nữa chào đón tất cả bạn đến với VELP năm nay, và tôi hy vọng rằng các cuộc thảo luận ở đây sẽ giúp thực hiện những nỗ lực cải cách của mình, tạo sự phát triển kinh tế-xã hội một cách công bằng và bền vững, toàn diện hơn của Việt Nam.

Xin cảm ơn quí vị.