Bài phát biểu của bà Helen Clark, Tổng giám đốc, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Hội thảo quốc tế: Cải cách kinh tế vì tăng trưởng bao trùm và bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam

24 thg 3 2014

image

Tôi rất hân hạnh được phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Cải cách kinh tế vì tăng trưởng bao trùm và bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam”. Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) rất hân hạnh được cùng Chính phủ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo này.  

Chủ đề của Hội thảo, Cải cách Kinh tế vì Tăng trưởng Bao trùm và Bền vững, rất phù hợp đối với Việt Nam và thế giới nói chung.  

Hai thập kỷ qua, hàng trăm triệu người đã thoát khỏi cảnh nghèo cùng cực, được xác định với mức thu nhập dưới 1,25 đô-la mỗi ngày, và mức thu nhập của triệu, triệu người khác trên ngưỡng này cũng đã được nâng cao. Việt Nam tự hào về phần đóng góp của mình vào câu chuyện thành công này.

Tuy nhiên, ước tính còn 1,2 tỷ người vẫn phải sống trong cảnh nghèo cùng cực, 870 triệu người phải chịu đói khi đi ngủ mỗi tối, 1,3 tỷ người không có điện để sử dụng và gần 2,5 tỷ người không tiếp cận được điều kiện vệ sinh tốt hơn, như các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ đề ra.

Các con số đó đưa ra một thông điệp quan trọng: trong các thập kỉ qua mặc dù tốc độ tăng trưởng cao ở nhiều quốc gia, tăng trưởng đã thường không bao trùm và bền vững, những người nghèo và dễ bị tổn thương trên thế giới và các quốc gia vẫn tiếp tục phải đối mặt với những thách thức phát triển đáng kể.   

Hội thảo này được tổ chức vào thời điểm quan trọng của Việt Nam. Với tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân 7,3% từ năm 1990 đến năm 2010, Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới và thu nhập theo đầu người cũng tăng gấp gần 5 lần trong thời kỳ này. Tình trạng nghèo cùng cực giảm từ 63,7% năm 1993 xuống còn 4,3% năm 2010, và hơn 97% hộ gia đình Việt Nam được sử dụng điện và các nguồn năng lượng hiện đại khác. Việt Nam cũng đạt được những bước tiến quan trọng về bình đẳng giới, bao gồm cả ở lĩnh vực giáo dục, việc làm và y tế.

Thành tựu về kinh tế và xã hội của Việt Nam đã cải thiện cuộc sống của rất nhiều người dân, xong vẫn còn có các thách thức quan trọng. Mặc dù mức độ bất bình đẳng về thu nhập là tương đối thấp ở Việt Nam so với nhiều nền kinh tế mới nổi khác, chênh lệch về thu nhập và phi thu nhập giữa các vùng, miền và các nhóm dân cư đã đang gia tăng; cảm nhận về bất bình đẳng cũng gia tăng, cả về tiếng nói và quyền lực. Trong khi tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động là khá cao, ở mức 72%, Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới trong những năm gần đây có khoảng cách về tiền công giữa nam và nữ đang gia tăng. Chênh lệch giữa các dân tộc thiểu số và nhóm dân cư khác ở Việt Nam cũng là đáng kể.

Đối mặt với phát triển kinh tế chậm lại, Chính phủ Việt Nam đang tích cực hình thành các cải cách kinh tế “thế hệ hai” để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và đảm bảo tiếp tục các tiến bộ kinh tế xã hội đáng ghi nhận trong hai thập kỉ qua. Các chiến lược thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và bền vững sẽ là quan trọng cho thành công của các cải cách đó, để đảm bảo cho mọi người dân Việt Nam, hiện nay và trong tương lai, được hưởng lợi từ tăng trưởng. Bền vững về môi trường cũng cần dược đề cập như một phần không thể tách rời trong các chiến lược đó. Hiện nay, cường độ sử dụng năng lượng ở Việt Nam rất cao và lượng phát thải khí nhà kính tăng lên nhanh chóng.

Báo cáo Phát triển con người năm 2013 của UNDP, với tiêu đề “Sự trỗi dậy của phương Nam: Tiến bộ của loài người trong một thế giới đa dạng”, đã ghi nhận Việt Nam là một trong những nước rất năng động và thành công lớn với tiến bộ về phát triển con người đặc biệt nổi bật. Bên cạnh đó, Báo cáo này lập luận rằng, nếu muốn tiếp tục thành công trong sự nghiệp phát triển con người trên toàn cầu, cần đi theo các con đường phát triển bao trùm và bền vững.

Trong những ý kiến bình luận của tôi ngày hôm nay, tôi sẽ xem xét một số nguyên nhân vì sao các mô hình phát triển hiện nay trên toàn cầu không đưa đến sự tăng trưởng bao trùm và bền vững. Sau đó, tôi sẽ đưa ra một số cách nhìn về việc Việt Nam làm thế nào để đề cập những vấn đề này trong chương trình cải cách của mình.

Tăng trưởng bao trùm và bền vững  – vì sao lại quan trọng và vì sao các mô hình phát triển hiện nay không dẫn đến đó?

Xóa nghèo, giảm bất bình đẳng và thúc đẩy phát triển thân thiện với môi trường đang xác định những thách thức của thời đại chúng ta.

Tháng 9 mới rồi, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon và cá nhân tôi đã công bố bản báo cáo đối thoại toàn cầu về chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015 do hệ thống các tổ chức phát triển của Liên Hợp Quốc thúc đẩy. Việt Nam là một trong những nước đầu tiên tổ chức cuộc tham vấn toàn diện cấp quốc gia như một phần của quá trình này.
Những phát hiện từ cuộc đối thoại toàn cầu chứa đựng những thông điệp quan trọng. Ý kiến phản hồi cho thấy người dân mong muốn giải quyết bất bình đẳng, giữa phụ nữ và nam giới, giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân tộc khác nhau, hay giữa người nghèo và người giàu, và theo các chiều cạnh khác nhau. Người dân cũng đòi hỏi phải có một nền quản trị quốc gia tốt hơn, có khả năng cung cấp các dịch vụ và phân bổ các nguồn lực một cách công bằng.

Một báo cáo mới đây của UNDP đã đưa ra ý kiến bình luận về những thách thức này. Báo cáo “Nhân loại bị chia rẽ – Đương đầu với tình trạng bất bình đẳng ở các nước đang phát triển” ghi nhận tình trạng bất bình đẳng nghiêm trọng và dai dẳng trong một thế giới giàu sang là nghịch lý của thời đại chúng ta. Báo cáo cho thấy bất bình đẳng về thu nhập trung bình ở cấp toàn cầu, và ở một số vùng đã gia tăng như thế nào trong hai thập kỷ qua, ngay cả khi các nền kinh tế vẫn tăng trưởng và mức độ nghèo đói toàn cầu vẫn giảm.

Ở châu Á, xu hướng này đặc biệt rõ ràng: mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế rất ấn tượng, đa số dân cư của khu vực hiện nay đang sinh sống ở những xã hội bất bình đẳng nhiều hơn so với hai thập kỷ trước.

Tình trạng bất bình đẳng tác động tiêu cực đến phúc lợi của người dân và triển vọng của toàn xã hội. Ví dụ, bất bình đẳng về thu nhập cản trở tăng trưởng dài hạn và hạn chế tác động giảm nghèo của tăng trưởng. Bất bình đẳng về thu nhập cũng gắn liền với hàng loạt các thành quả nghèo nàn về mặt xã hội, từ tình trạng sức khỏe và giáo dục thấp kém đến tỷ lệ tội phạm cao hơn.  Bất bình đẳng cũng có thể gây nên bất ổn về chính trị, làm xói mòn gắn kết xã hội và tính hợp pháp của chính phủ; nó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực ra quyết định cần thiết cho cải cách.  

Nhưng, sự nới rộng khoảng cách về thu nhập, tài sản hay các chiều khác về phúc lợi, không phải là cái giá phải trả không thể tránh khỏi để thúc đẩy sự nghiệp phát triển. Báo cáo mới đây của UNDP về tình trạng bất bình đẳng liệt kê nhiều nước đã thành công trong việc giảm đáng kể sự bất bình đẳng về thu nhập và phi thu nhập thông qua sự kết hợp các chính sách tiến bộ về kinh tế và xã hội. Ví dụ, kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc ở khu vực này cho thấy có thể đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng song song với việc bất bình đẳng giữ ở mức thấp và thậm chí có thể giảm.

Thách thức đối với tính bền vững về môi trường cũng là một vấn đề nổi bật trong các cuộc tham vấn toàn cầu về chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015. Có nhận thức rộng rãi về chi phí cao mà các con đường phát triển và tăng trưởng truyền thống gây ra cho các hệ sinh thái, trong đó có hình thái khí hậu xung quanh chúng ta.

Suy cho cùng, như đã được nêu bật trong Báo cáo Phát triển con người năm 2011 của UNDP “Bền vững và bình đẳng: một thế giới tốt hơn cho tất cả mọi người”, nỗ lực theo đuổi bình đẳng và bền vững có quan hệ khăng khít với nhau: một mục tiêu sẽ không thể đạt được nếu thiếu mục tiêu kia.

Các yếu tố căn bản đã hạn chế tính bền vững và tính bao trùm của tăng trưởng đến nay bao gồm:

  1. Tăng trưởng diễn ra không đồng đều giữa các ngành và các địa phương: giữa các khu vực thành thị và nông thôn và giữa các tỉnh, các vùng miền và các nước. Gần ba phần tư người nghèo trên thế giới đang sinh sống ở khu vực nông thôn trong khi tăng trưởng ở nhiều nước lại tập trung ở các khu vực thành thị và/hoặc ven biển. Ở Việt Nam chín mươi phần trăm người nghèo và chin mươi tư phần trăm người nghèo cùng cực của Việt Nam đang sinh sống ở khu vực nông thôn.  Ở một mức độ nào đó, đây là sản phẩm phụ của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng, nhưng vẫn có thể tìm được các cách thức đảm bảo cân bằng và tính bao trùm tốt hơn trong quá trình phát triển, để không ai bị tụt hậu.
  2. Việc làm và sinh kế là những phương tiện quan trọng hàng đầu để người dân tham gia vào nền kinh tế. Tuy nhiên, tăng trưởng việc làm so với tăng trưởng GDP còn thấp, thậm chí còn suy giảm ở nhiều nước. Gần 202 triệu người thất nghiệp trên toàn thế giới năm 2013 – tăng gần 5 triệu người so với năm 2012. Phần lớn sự gia tăng thất nghiệp toàn cầu xảy ra ở các nước Đông Á và Nam Á, cả hai khu vực này chiếm 45% của số gia tăng ước tính về người tìm kiếm việc làm trên toàn thế giới trong năm 2013.  Sự thâm dụng vốn ngày càng tăng trong các nền kinh tế cũng tác động đến việc làm, nhưng thách thức vẫn là làm sao để có thể dịch chuyển sản xuất lên các phân đoạn cao hơn của chuỗi giá trị cũng như tạo thêm nhiều việc làm tốt hơn.
  3. Các chênh lệch lớn về nắm giữ tài sản, trong đó có đất đai, và  tiếp cận bất bình đẳng tới các hàng hóa và dịch vụ có chất lượng như giáo dục, y tế, tín dụng, hạ tầng cơ sở và bảo trợ xã hội đã ngăn cản người nghèo tham gia đầy đủ vào và hưởng lợi từ tăng trưởng, do đó làm nghiêm trọng hơn tình trạng bất bình đẳng về thu nhập hiện nay.

    Ở châu Á, chi tiêu công cho giáo dục và y tế vẫn thấp hơn so với các khu vực khác. Ở Việt Nam, mặc dù chi tiêu công cho giáo dục và y tế, đo theo phần trăm của GDP, cao hơn so với một số nước trong khu vực, nhưng tính hiệu quả của chi tiêu công vẫn tồn tại như một vấn đề cần giải quyết. Ở châu Á, độ bao phủ của bảo trợ xã hội nhìn chung thấp hơn so với ở các khu vực mới nổi như Mỹ La-tinh và Đông Âu. Nhiều người dân vẫn không tiếp cận được các dịch vụ tài chính chính quy.
  4. Bản chất của quá trình toàn cầu hóa và sự dịch chuyển của các chuỗi giá trị toàn cầu cũng là một yếu tố hạn chế tính bao trùm. Mặc dù các yếu tố như tính cạnh tranh thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài và các công nghệ mới tạo ra các cơ hội cho những nước như Việt Nam, nhưng những yếu tố này lại thường dẫn đến thâm dụng vốn sâu hơn và cầu ngày càng cao đối với lao động kĩ thuật, mức thù lao của người lao động kĩ thuật cũng tăng nhanh hơn mức thù lao của người lao động giản đơn. Thực tế này, đặc biệt là khi kết hợp với các chính sách thị trường lao động làm suy yếu vị thế mặc cả của người lao động giản đơn, có thể càng làm nghiêm trọng hơn tình trạng bất bình đẳng về thu nhập hiện nay.
  5. Các mô hình tăng trưởng hiện nay cũng đã trở nên hưng thịnh nhờ các phương thức tiêu thụ và sản xuất không bền vững, đặc biệt ở các nước công nghiệp, Các phương thức này đang đẩy tới các giới hạn về môi trường của hành tinh chúng ta ở một số lĩnh vực.

    Ví dụ, lượng phát thải khí nhà kính, sự biến mất của đa dạng sinh học và hiện tượng a-xít hóa đại dương đang gia tăng đến mức báo động. Thực vậy, theo một số tính toán, hơn 60% các hệ sinh thái và các dịch vụ liên quan mà loài người phụ thuộc vào đã xuống cấp, bị khai thác quá mức hay đã bị biến mất hoàn toàn.

    Hai thập kỷ trước đây, việc ứng phó biến đối khí hậu không phải là một yếu tố quan trọng trong tư duy phát triển. Ngày nay, vấn đề này là ưu tiên cao trong chương trình nghị sự toàn cầu, vì thế giới đã chứng kiến nhiều thảm họa thời tiết làm đảo ngược quá trình phát triển. Bản thân Việt Nam cũng là đất nước rất dễ bị tổn thương bởi những hiện tượng thời tiết cực đoan và tác động của biến đổi khí hậu, và Việt Nam đã cảm nhận được các thiệt hại về người và kinh tế do  thiên tai ngày càng khắc nghiệt gây ra. Các ước tính gần đây cho thấy thiệt hại về kinh tế do thiên tai gây ra ở Việt Nam từ năm 2008-2012 lên đến 1,5 phần trăm GDP, tăng từ 1 phần trăm trong bốn năm trước đây.

    Một thỏa thuận toàn cầu mới về khí hậu là then chốt, và thỏa thuận này cần bao gồm sự hỗ trợ cho thích ứng với biến đổi khí hậu của các nước như Việt Nam. Thỏa thuận đó cần là một phần trong cam kết hướng tới dài hạn toàn cầu về những con đường phát triển bền vững làm thay đổi cách thức chúng ta sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ; cách thức sử dụng đất đai, biển và nguồn nước của chúng ta; cách thức sản xuất và tiêu thụ năng lượng; cách thức quy hoạch các thành phố và cộng đồng của chúng ta. Phát triển các nền kinh tế của chúng ta trước rồi làm sạch môi trường sau là một kịch bản tồi tệ mà thế giới của chúng ta không thể chấp nhận.

Hướng tới tương lai – làm thế nào để Việt Nam thúc đẩy hơn nữa phát triển bao trùm và bền vững ?

Những thành tựu kinh tế - xã hội mà Việt Nam đạt được, kể từ khi đưa ra các cải cách kinh tế Đổi mới vào năm 1986, là rất ấn tượng. Tốc độ tăng trưởng hiện nay, tuy vậy, đã thấp hơn trước đây.

Tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu vẫn còn đó đối với nhiều quốc gia, xong ở Việt Nam tốc độ tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh yếu hơn, kèm theo những yếu kém về thể chế, có vẻ là những yếu tố quan trọng đã hạn chế tăng trưởng. Do đó, mô hình phát triển của Việt Nam đang được rà soát lại, và nhiều bước đi quan trọng đang được thực hiện.

  • Tháng 2 năm ngoái, Chính phủ Việt Nam đã thông qua đề án tổng thể về tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và chỉnh đốn lại hệ thống tài chính giai đoạn 2013-2020.
  • Trong những tháng gần đây, Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể về việc ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát tình trạng dễ bị tổn thương của ngành ngân hàng.

Hiện nay, Việt Nam đang bắt đầu xây dựng và thực hiện thế hệ tiếp theo của các biện pháp cải cách cơ cấu và thể chế nhằm  bảo đảm tiếp tục những tiến bộ về phát triển và tăng cường năng lực để hội nhập sâu rộng hơn với nền kinh tế toàn cầu.

UNDP gợi ý một số lĩnh vực quan trọng sau đây để Việt Nam có thể cân nhắc trong quá trình cải cách để thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và bền vững tại Việt Nam:

  1. Thực hiện các biện pháp để cải thiện năng suất lao động và chất lượng sản xuất trong ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản như là một phần hữu cơ trong chiến lược tăng trưởng của đất nước. Những biện pháp này có vai trò quan trọng để tạo ra một nền kinh tế có tính bao trùm, bởi vì phần lớn người nghèo đang tiếp tục sinh sống và làm việc ở các vùng nông thôn. Trong hai thập kỷ qua, sự tăng trưởng bình đẳng và giảm nghèo của Việt Nam  nhiều phần là do cải cách đất đai, sự cải thiện về các điều kiện thương mại nông nghiệp và sự gia tăng đầu tư công cho nền kinh tế nông thôn trong những năm cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Hiện nay, cần quan tâm tới nâng giá trị gia tăng cho sản xuất nông và ngư nghiệp để có thể thu được giá bán cao hơn. Nông dân và nền kinh tế có thể sẽ thu lợi từ việc cung cấp một cách có hệ thống hơn các dịch vụ khuyến nông, kiểm định chất lượng và cấp chứng chỉ hàng hóa tốt hơn, và các chiến lược xây dựng thương hiệu tốt hơn cho các sản phẩm của Việt Nam.
  2. Nâng cấp mạnh mẽ nền kinh tế hướng tới các ngành có giá trị cao hơn nói chung là cần thiết để giúp Việt Nam có thể xác lập được lợi thế so sánh mới trong nền kinh tế khu vực và thế giới và tạo ra được nhiều việc làm tốt. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng các chính sách công nghiệp hiện đại và phù hợp nhằm hỗ trợ cải thiện tay nghề, sự sẵn có của nguồn tài chính, chuyển giao công nghệ, một chính sách thương mại  khôn khéo cũng như công tác nghiên cứu và phát triển có chất lượng. Tạo dựng một môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mặc dù hiện có quy mô khiêm tốn nhưng là nguồn cung cấp việc làm chủ yếu, cũng cần là một phần của quá trình này.

    Tiếp tục các nỗ lực hội nhập kinh tế khu vực cũng quan trọng. Việc hình thành Cộng Đồng Kinh Tế ASEAN vào năm 2015 sẽ tạo cơ hội quan trọng cho Việt Nam để tăng tính cạnh tranh và nâng cấp các quá trình sản xuất của mình, và mở cửa các thị trường mới, đặc biệt trong bối cảnh tầng lớp trung lưu của khu vực đang gia tăng nhanh chóng.
  3. Mở mang nhiều cơ hội thông qua khả năng tiếp cận nền giáo dục có chất lượng và phù hợp có vai trò then chốt. Các nước như Nhật Bản và Hàn Quốc đã tiến nhanh trong giai đoạn đầu quá trình phát triển của mình bằng cách đầu tư cho nền giáo dục có chất lượng ở tất cả các cấp học, và đặt trọng tâm vào sáng tạo và tiếp thu các công nghệ mới. Những bước đi này đã trở thành nền tảng cho quá trình chuyển đổi của Nhật Bản và Hàn Quốc sang nền kinh tế tri thức. Đối với các nước có mức thu nhập trung bình như Việt Nam, thách thức chủ yếu không còn là khả năng tiếp cận giáo dục mà là khả năng cung cấp các dịch vụ giáo dục có chất lượng và phù hợp cho mọi người dân, bao gồm cả ở cấp giáo dục cao học và dạy nghề.
  4. Một hệ thống bảo trợ xã hội hiện đại cũng là một phần quan trọng trong chương trinh cải cách. Năm 2005, lần đầu tiên trong lịch sử đất nước, Việt Nam có số dân cư trên 60 tuổi nhiều hơn số trẻ em dưới 5 tuổi. Nhóm dân cư trên 60 tuổi được dự kiến sẽ tăng gấp đôi từ 9% năm 2010 lên 18% năm 2030. Nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng chậm lại đúng vào thời điểm mà Việt Nam cần bắt đầu phải chăm sóc nhiều hơn cho một thế hệ nhiều người cao tuổi hơn.

    Việc tiếp cận các dịch vụ có chất lượng ở Việt Nam đươc cảm nhận là ngày càng phụ thuộc vào khả năng chi trả của các hộ gia đình. Điều đó đang góp phần vào việc hình thành một hệ thống cung cấp dịch vụ nhiều tầng nấc và càng làm nghiêm trọng thêm sự bất bình đẳng hiện nay. Cải cách các hệ thống bảo hiểm xã hội và hỗ trợ xã hội của Việt Nam, do vậy có vai trò quan trọng vào thời điểm hiện nay, trong đó bao gồm việc rà soát lại các cơ chế tài chính và phương thức quản trị cũng như các mô hình cung cấp dịch vụ. Hệ thống bảo trợ xã hội được hợp lý hóa cũng có thể thúc đầy xóa nghèo cùng cực trong mọi chiều cạnh của nó.
  5. Do Việt Nam có nguy cơ cao về thảm họa khí hậu, đầu tư vào giảm nhẹ rủi ro thảm họa và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ là một phần quan trọng của các chiến lược tăng trưởng bao trùm và bền vững. Mỗi đô-la đầu tư vào giảm nhẹ rủi ro thảm họa hôm nay có thể tiết kiệm được hơn 4 đô-la chi phí về cứu trợ và tái thiết trong tương lai, và giúp các cộng đồng khỏi gánh chịu sự thụt lùi to lớn về phát triển. Các hệ thống bảo trợ xã hội hiện đại cũng góp phần vào việc tăng cường sức đề kháng trước thảm họa và tạo thuận lợi để sớm phục hồi sau thảm họa bằng việc đảm bảo thu nhập và các hỗ trợ khác sẵn sàng khi thảm họa xảy ra.

    Liên quan tới bền vững về môi trường, Chính phủ đã thực hiện một số bước như Chiến lược về biến đổi khí hậu và Chiến lược tăng trưởng xanh, cũng như các khuôn khổ luật pháp về bảo vệ môi trường. Quyết định giảm dần trợ cấp cho các nhiên liệu hóa thạch cũng là một biện pháp quan trọng và việc thực hiện cần được đẩy nhanh, nhưng việc chấp nhận giảm dần trợ cấp đó ở nơi này hay nơi khác còn phụ thuộc vào các biện pháp hỗ trợ cho các hộ gia đình có thu nhập thấp.

    Các chính sách khuyến khích tăng trưởng với mức phát thải thấp và sức đề kháng trước thảm họa khí hậu sẽ hướng nền kinh tế đi vào con đường phát triển bền vững và bao trùm hơn.
  6. Việc phân bổ và quản lý nguồn lực công một cách minh bạch và có trách nhiệm giải trình hơn có vai trò then chốt để bảo đảm tối đa hóa tác động phát triển của các nguồn lực quốc gia. Đấu tranh chống tham nhũng và bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình phát triển là hai trong số những tập quán quốc tế tốt được ghi nhận trong nỗ lực thúc đẩy phát triển bao trùm và bền vững.  

    UNDP rất vui mừng được tham gia vào việc xây dựng một hệ thống giám sát hiệu quả hoạt động mang tính sáng tạo, góp phần vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ ở Việt Nam. Từ năm 2011, Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) đã theo dõi và ghi nhận trải nghiệm của người dân Việt Nam về nền quản trị và hành chính công. Theo kết quả điều tra, người nghèo vẫn phải đối mặt với những bất cập trong việc tiếp cận dịch vụ trong khi người dân nói chung ngày càng đòi hỏi phải cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ.

Kết luận

Việt Nam có nhiều điểm mạnh của riêng mình, trong đó có lực lượng lao động tương đối trẻ và cạnh tranh, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, và vị trí địa lý ở trung tâm một khu vực phát triển năng động.  Với những lựa chọn chính sách khôn ngoan, tương lai của Việt Nam sẽ rất sáng lạn.

Trong khi xem xét các biện pháp cải cách thuộc thế hệ mới, Việt Nam có thể lựa chọn con đường phát triển bao trùm và bền vững. UNDP chúng tôi, được chỉ dẫn bởi những ưu tiên của chính Việt Nam và nhiệm vụ của UNDP trong việc thúc đẩy phát triển con người và phát triển bền vững, cam kết hỗ trợ Việt Nam trên hành trình cải cách của mình.

Tôi hy vọng rằng hội thảo này sẽ bổ ích cho việc tìm tòi các các lựa chọn cải cách của Việt Nam trong khi Việt Nam lập chiến lược để tiếp tục các thành tựu phát triển đầy ấn tượng của mình, để xóa nghèo và để đẩy mạnh phát triển con người.